Updated: 06/03/2010 03:37:23 AM
SỐNG LỜI CHÚA
SỐNG LỜI CHÚA - Cơ Hội Thứ Hai
Khi
bị chết cách bất ngờ, do tai nạn hoặc đau yếu, do bạo động hay thiên tai như
những trận động đất tại Haiti hoặc tại Chilê, chúng ta thường tự hỏi: Chúa ở
đâu? Phải chăng Người không còn điều khiển được mọi việc đang xảy ra trên thế
giới? Người có nhìn thấy những gì đang xảy ra cho Dân của Người hay không? Tin
mừng hôm nay trả lời rằng Chúa biết mọi sự nhưng hiện tại chưa phải là thời gian
Người đến để phán xét hay để bảo vệ những nạn nhân vô tội của sự dữ và làm cho
những sự dữ chấm dứt. Giống như người nông dân cho phép cây vả có thêm thời gian
để sinh hoa kết trái, Chúa cũng ban cho con người có thêm thời gian để thay đổi
cách sống của mình.
Mùa chay là thời gian để chúng ta đối diện với sự dữ ở chung quanh và ngay bên
trong tâm hồn của mình. Đây là mùa sám hối, mùa đổi mới. Thiên Chúa nhân từ,
kiên nhẫn chờ đợi. Người hoãn lại cho chúng ta thêm một kỳ hạn nữa - Hãy khẩn
trương sám hối kịp thời. Đừng để đến ngày mai việc gì bạn có thể làm được hôm
nay. Thời gian để chúng ta chọn Thiên Chúa và xa lánh sự dữ là ngay bây giờ chứ
không phải tương lai. Tương lai có thể sẽ không bao giờ xảy ra. Động đất, sóng
thần có thể xảy ra bất cứ lúc nào.
Mùa chay là thời gian hoà giải. Hoà giải nghĩa là sắp xếp chính mình trong mối
liên hệ hổ tương với người khác. Mùa Chay là thời gian để chúng ta kiểm điểm xem
chúng ta có tham dự vào những việc làm khiến cho những người chung quanh phải
đau khổ hay không; Là thời gian để chúng ta nhìn lại và tìm hiểu ý nghĩa của
những thảm kịch đã hoặc đang xảy ra cho chính mình cũng như cho những người vô
tội. Đây cũng là thời gian để chúng ta đối diện với những sa ngã của mình và ý
thức rằng Thiên Chúa có thể chữa lành và giúp đỡ chúng ta.
Chúng ta phạm tội không chỉ vì những việc xấu chúng ta làm nhưng còn là bỏ qua
những cơ hội để làm việc tốt mà đáng lý ra chúng ta phải làm. Cây vả bị đốn đi
không phải vì đã sinh ra những trái xấu, nhưng vì nó đã không sinh ra những trái
vả mà đáng lý ra nó phải sinh ra.
Hiện tại vẫn chưa quá trễ. Cây vả đã được cho thêm một năm nữa để sinh hoa kết
trái. Xin Chúa cho chúng ta biết dùng thời gian một cách khôn ngoan, và cho
chúng ta cũng sinh hoa kết quả tốt theo chương trình mà Chúa muốn chúng ta làm.
Lm FX Nguyễn Văn Tuyết
SỐNG LỜI CHÚA - SỐNG ƠN GỌI
Trong
Bài Đọc thứ nhất của Sách Sáng Thế Ký, Thiên Chúa ký kết giao ước với Abraham.
Nhân loại cũ do nguyên tổ Ađam đã phản bội. Thiên Chúa quyết định thành lập một
nhân loại mới bắt đầu từ Abraham. Thiên Chúa kêu gọi Abraham bỏ xứ Ur thuộc
Mesopotamia về Canaan. Ông đã sống ơn gọi đó bằng trung thành với Giao Ước cùng
Thiên Chúa.
Thánh Phaolô trong Bài Đọc thứ 2 kêu gọi Giáo Dân Philipphê theo gương Abraham
và theo gương Ngài sống ơn gọi làm con Thiên Chúa bằng cách hoàn toàn trông cậy
và tin tưởng vào Thiên Chúa.
Bài Tin Mừng Luca trình thuật về sự kiện Chúa Giêsu gọi và chọn 3 Tông Đồ Phêrô,
Giacôbê, và Gioan lên núi Tabor, để tham dự vào vinh quang của Thiên Chúa qua sự
kiện Biến Hình của Chúa Giêsu. Trong sự kiện Biến Hình này, hình ảnh của Tiên
Tri Elia và Môisen, những người cũng đã sống ơn gọi của Thiên Chúa, đã cùng đàm
đạo với Chúa Giêsu. Người cũng đã được Thiên Chúa tuyển chọn khi Chúa Cha tuyên
phán trong sự kiện Biến Hình: “Đây là Con Ta Dấu Yêu, các con hãy nghe lời
Ngài.”
Trong lịch sử Giáo Hội, nhiều người con của Chúa cũng đã sống ơn gọi để canh tân
đổi mới. Thánh Nữ Mađalêna đã thay đổi từ một người tội lỗi, để sống ơn gọi làm
con Chúa. 12 Tông Đồ, và đặc biệt 3 Tông Đồ Phêrô, Giacôbê, và Gioan được mời
gọi tham dự sự kiện Biến Hình cũng đã đổi mới và sống ơn gọi làm Tông Đồ.
Phaolô, người chuyên môn đi tìm bắt con cái của Chúa cũng đã đổi mới và sống ơn
gọi.
Hôm nay, Chúa mời gọi chúng ta để canh tân và sống ơn gọi của chúng ta trong Mùa
Chay Thánh. Chúng ta đáp lại và sống ơn gọi thế nào?
Linh Mục Văn Chi.
SỐNG LỜI CHÚA - MÙA PHÚC THIỆN
Nếu
ai đó chỉ nghĩ rằng ‘ăn chay và kiêng thịt’ theo thuần nghĩa bên ngoài nghĩa là
ăn ít đi và không ăn thịt thì quả thật người ấy chưa trở thành “con người sâu
thẩm” theo cách nói của Don Postina.
Thật là thơ ngây nếu nghĩ rằng chỉ cần bớt ăn bớt uống là xong bổn phận của Mùa
Chay. Cũng như thật vô cùng ngây ngô khi nghĩ rằng tu trì là một đời sống không
còn bị những vật chất thế trần cám dỗ. Những hiểu lầm này, nói theo Mahatma
Gandhi, còn “vĩ đại hơn dãy Hy Mã Lạp Sơn.”
Càng lên chốn thanh cao, sự cám dỗ lại càng nhiêu khê đòi buộc! Càng vào nơi
hoang vắng, sự cám dỗ lại càng miên viễn vây quanh! Vấn đề, vì thế, không phải
là chạy trốn cám dỗ nhưng diện đối diện để tìm cho mình một hướng đi. Mùa Chay,
vì thế, là lúc tìm lại cho mình một con đường...
Trong cuốn “Khoảng Không Gian cho Chúa,” Don Postina nhắn gửi Mùa Chay không chỉ
ăn ít đi và uống bớt lại nhưng là phải đôi khi vào một nơi chốn cô liêu hoang
vắng để hiểu mình là ai; là thỉnh thoảng phải thinh lặng để hiểu mình nói gì.
Mùa Chay cần những giây phút lắng đọng trầm ngâm để hiểu việc mình làm.
Và liên lỉ cầu nguyện để vâng theo Thánh ý Chúa và làm những điều phúc thiện...
Lm Nguyễn Khoa Toàn
SỐNG LỜI CHÚA - TĨNH TÂM HDMV-TGP SYDNEY 2010
Cách
đây không lâu, dòng Đa Minh bên Việt Nam có thêm 19 tân linh mục. Một trong 19
cha mới chọn khẩu hiệu đời linh mục của mình là: “Con đâu có biết ăn nói”
(Jeremiah 1, 6). Con xin mượn khẩu hiệu này để chia sẽ vì đây cũng là việc mà
con đã nghĩ đến sau khi được quí cha cũng như ông chủ tịch bảo rằng, “kỳ tĩnh
tâm HDMV cha Liêm chia sẻ nhé.”
Xin thú thật, bình thường chia sẻ tại các giáo đoàn chỉ có ban mục vụ thôi mà
con đã run rồi huổng hồ bây giờ là lên tới cấp “hội đồng” thì làm sao không run
cho được. Vì con tự biết rằng vốn liếng Việt Ngữ của mình rất là eo hẹp, vả lại,
tiếng Việt thì quá ư là phong phú. Vì thế, con tự hỏi mình không biết sẽ đảm
trách việc này như thế nào?
Như Tiên tri Jeremiah đã nói “Lạy Chúa con biết nói đây gì vì con còn quá nhỏ”.
Nhưng Thiên Chúa lại bảo với Jeremiah rằng “Thiên Chúa sẽ giúp con nói.” Con
biết rằng con không chỉ nhỏ về tuổi đời mà còn cả tuổi tu nữa. Vì thế, lạy Chúa,
xin giúp chúng con và hướng dẫn con theo thánh ý của Ngài.
Hôm nay con xin chia sẻ với HDMV chủ đề rất quen thuộc với mỗi người chúng ta;
chủ đề được gói gọn trong hai chữ ‘cộng đồng’.
Trước khi đi vào phân tích hai chữ này, xin phép kể một câu chuyện có thật: Có
một anh thanh niên nọ nhìn qua nhà hàng xóm thấy một cụ già khoảng độ 70 đang
trồng một cây chanh tí tẹo, cậu liền sang bên nhà và hỏi cụ “cụ ơi, cụ đã già
rồi nên nghỉ ngơi cho khỏe, trồng cây làm gì cụ, ra chợ mua, chứ bây giờ cụ
trồng không chừng chanh chưa có trái là cụ đã về với Chúa rồi. Tưởng rằng cụ sẽ
la nhưng không ngờ cụ trả lời anh thanh niên nọ những câu rất dễ thương. Cụ nói,
cậu lại đây, cậu nhìn kìa cây mận này nè, không biết ai đã trồng nó, cụ về đây
hàng chục năm rồi và hằng năm nhà cụ được hưởng mùa. Do đó, cụ cứ trồng. Nếu
mình không thừa hường thì thế hệ con cháu sẽ hưởng. Ngạn ngữ Việt Nam chúng ta
có những câu rất sâu sắc như: “ăn quả nhớ kẻ trồng cây” ; “uống nước nhớ nguồn.”
Con xin mượn câu chuyện trên để nói lên lòng cảm mến tri ân cha cố Đominicô
Nguyễn Văn Đồi cùng với quí cha tuyên úy và hội đồng mục vụ của những thế hệ
trước. Cảm ơn các vị đã để lại cho cộng đồng chúng ta một di sản đồ sộ như thế
này.
Chúng ta cũng rất biết ơn một người đã đồng hành với cộng đồng lâu nhất, và đã
hy sinh nhiều nhất. Đó là cha Paul Chu văn Chi.
Cha Phanxicô Nguyễn Văn Tuyết không có nhà, Cha đã âm thầm hy sinh, giúp đỡ cộng
đồng từ khi về lại sydney. Xin cảm tạ cha Tuyết.
Con thấy rằng những ai giữ chức vụ quản gia trung tâm này đều là những người hy
sinh rất lớn.
Cảm ơn thầy Nên đã đồng hành vất vả cùng cộng đồng bấy lâu nay.
Cảm ơn Cha tuyên úy trưởng Nguyễn Khoa Toàn đã tiếp tục dìu dắt con thuyền cộng
đồng đến ngày hôm nay. Đôi khi sóng biển đã làm cho người thuyền trưởng lo lắng
không biết rồi đây thuyền sẽ ra sao, nhưng cha vẫn tin tưởng và phó thác vào sự
quan phòng của Chúa vì cha biết rằng người thuyền trưởng không phải là cha mà là
Đức Kitô. Cảm ơn cha đã tiếp tục trong chức vụ mà ĐHY quan tâm giao phó.
Cuối cùng xin cảm ơn HDMV đã cộng tác nhiệt tình với quí Cha trong việc mục vụ
và duy trì, phát triển văn hóa của người việt công giáo tại vùng đất Úc Châu
này.
Trở về với chủ đề Cộng Đồng: hai chữ này không những quan trọng mà còn linh
thiêng nữa.
Con xin phép được hỏi HDMV Cộng Đồng là gì? Làm sao định nghĩa được?
共
cộng
Có người cho rằng chữ ‘cộng’ đồng nghĩa với chữ ‘chung’ nếu như thế thì rất nguy
hiểm bởi vì của chung thì ít người làm, người này nạnh người kia, cuối cùng
chẳng ai làm hết. Cha chung không ai khóc là vậy.
Theo từ điển hán việt thì chữ đồng nghĩa với chữ cộng là chữ ‘cùng’ vì thế nếu
có việc gì thì mọi người cùng làm.
Còn chữ
同
đồng
Chữ nhất nằng trong chữ cung bên dưới là chữ khẩu ý muốn nói là nếu đã là một
thì nên nói một lời, ăn mộ món. Chữ đồng nói lên 3 điều.
1. với nhau – trong mọi việc làm chúng ta nên có người đứng bên cạnh
2. cùng nhau – nói lên trách nhiệm tập thể
3. như nhau – là biết chấp nhận sự khác biệt.
vì thế hai chữ ‘cộng đồng’ nói lên được ý định, mục đích và phương hướng của một
nhóm người nào đó mặc dù khác biệt nhau nhiều lĩnh vực nhưng thành tâm vun đắp
cho sự lớn mạnh của cộng đồng mà họ gắn bó.
Có người hỏi rằng tại sao những người di dân lại thích chụm 3 chụm 7 hay nói
cách khác là thích sống gần nhau. Lý do cũng dễ hiểu thôi. Khi con người sống
trong nước hoặc tại quê hương của họ thì dễ xẩy ra tình trạng chia rẽ bè phái,
nhưng khi ném họ ra khỏi đất nước của họ thì tự họ cảm thấy cần đến sự nâng của
người cùng quê hương, cùng tôn giáo, cùng văn hóa và ngôn ngữ - cho nên khi họ
cảm thấy bơ vơ thì bám vào nhau để sống. (Nhưng đôi khi bám vào nhau hơi chặt
thì cảm thấy đau.)
Khi nói đến cộng đồng là chúng ta nói đến 3 yếu tố
Với nhau – Cùng nhau – Như nhau
Muốn một cộng được phát triển thì phải có đóng góp của những cộng tác viên.
1. Tập Thể
2. Cá Nhân
Có hai thuyết lý như sao:
Có những người cho rằng sự thăng tiến của cá nhân quan trọng hơn sự thăng tiến
của tập thể. Có những người khác lại cho rằng sự thăng tiến của tập thể quan
trọng hơn sự thăng tiến của cá nhân.
Trong xã hội tân tiến thì chúng ta thấy rằng chủ nghĩa cá nhân càng ngày càng
bành trướng ra. Càng ngày thế giới càng thu gọn trong một bộ máy
computer-internet. Thế giới càng thu hẹp lại trong khi chủ nghĩa cá nhân càng
lớn ra. Tôi không cần đi đâu, không cần hỏi thăm ai. Ở nhà, tôi đã có tất cả.
Có những người chủ trương rằng sự phát triển của tập thể ắt sẽ kéo theo sự phát
triển của cá nhân. Do đó, họ thường lăng xăng khắp nơi. Việc mình thì nhác, việc
chú bác thì siêng. Hậu quả là họ chẳng làm nên được việc gì ra trò trống. Vì sự
hiểu biết lệch lạc về sự phát triển của tập thể, họ xem thường lợi ích cá nhân.
Hậu quả là họ làm băng hoại cả đời sống cá nhân và cộng đồng.
Chúng ta cần xác tín rằng ‘tập thể’ và ‘cá nhân’ tồn tại cho nhau. Chúng ta
không thể hy sinh hoàn toàn lợi ích tập thể cho cá nhân hoặc lợi ích cá nhân cho
tập thể. Một gia đình, cộng đoàn, hoặc xã hội chỉ có thể phát triển một cách
mạnh mẽ và đúng hướng khi mỗi người cùng quan tâm đến cả hai, lợi ích tập thể và
lợi ích cá nhân.
Chúng ta lấy Chúa Ba Ngôi làm khuôn mẫu cho đời sống cá nhân và cộng đồng. Chúng
ta biết rằng Chúa duy nhất trong bản tính và Chúa là Cha, Con, và Thánh Thần. Ba
Ngôi phân biệt nhưng không tách biệt. Tính ‘tập thể’ và tính ‘cá nhân’ của Ba
Ngôi Vị luôn tròn đầy. Trong ‘Bổn Lẽ Cần Cho Được Rỗi Linh Hồn’ có câu hỏi là:
Trong Ba Ngôi, có Ngôi nào trước, Ngôi nào sau, Ngôi nào hơn, Ngôi nào kém
chăng? Câu trả lời là: thưa Ba Ngôi cùng bằng nhau. Bằng nhau trong bản tính,
nhưng phân biệt nhau bởi Ngôi Vị. Chúa Ba Ngôi chính là sự hòa hợp tuyệt đối.
Giáo Hội là hình ảnh, là bí tích của Chúa Ba Ngôi. Do đó, Giáo Hội là bí tích
của sự hòa hợp. Chúng ta thấy rằng Giáo Hội hoàn vũ và Giáo Hội địa phương luôn
hòa hợp với nhau. Mỗi Giáo Hội địa phương thể hiện tròn đầy phẩm tính và chức
năng của Giáo Hội hoàn vũ. Do đó, Giáo Hội địa phương không phải là một ‘chi
nhánh’ của Giáo Hội hoàn vũ mà là nơi Giáo Hội hoàn vũ thực thi sứ mệnh của
mình.
Công trình cứu độ nhân loại được khởi xướng bởi Đức Chúa Cha, được hiện tại hóa
bởi Đức Kitô và được tiếp tục bởi Chúa Thánh Thần thông qua vai trò trung gian
của Giáo Hội. Là bí tích của sự hòa hợp, Giáo Hội có sứ mệnh cổ vũ, gìn giữ, và
loan truyền Tin Mừng của sự hòa hợp đến cho mọi người.
Mỗi người chúng ta là những thành viên của cộng đồng Giáo Hội. Chúng ta có bổn
phận xây dựng sự hòa hợp ngay trong cộng đồng mình. Kẻ thù của sự hòa hợp là sự
chia đàn sẻ nghé, nghi kị, thiếu tinh thần xây dựng, đề cao chủ nghĩa cá nhân.
Kẻ thù của sự hòa hợp là tính ích kỉ, coi mình là ‘trung tâm vũ trụ’. Chúng ta
kinh nghiệm rằng ‘cái tôi’ càng to thì nổ lực xây dựng cộng đồng ‘càng nhỏ’.
Con người chúng ta sống là ‘sống với’. ‘Không ai là một hòn đảo’. Chúa cứu chúng
ta thông qua cộng đồng Giáo Hội. Do đó, chúng ta cần nổ lực xây dựng cộng đồng,
từ cộng đồng nhỏ nhất là gia đình tới cộng đồng lớn nhất là Giáo Hội.
Chúng ta cảm tạ Chúa vì Chúa đã mời gọi chúng ta đóng góp sức lực vào việc xây
dựng Cộng Đồng Công Giáo Việt Nam trên đất nước Úc này. Tùy theo sức lực và khả
năng của mình, chúng ta cần có tinh thần xây dựng để cộng đồng chúng ta ngày
càng phát triển thêm. Sự phát triển của cộng đồng chúng ta chính là sự phát
triển của Giáo Hội.
Xin kết luận
Ông Bá Dương sinh năm 1920 ở Trung Quốc lục địa, chạy sang Đài Loan năm 1949. Là
một nhà thơ, nhà văn, nhà báo và sử gia. Ông đã bị bỏ tù 10 năm tại Lục Đảo (Đài
Loan) vì dịch sang tiếng Trung Quốc một tranh hý họa Popeye (Pôp-pay) mà chính
phủ Đài Loan cho là phạm thượng. Năm 1977, khi ra khỏi nhà tù, ông bắt đầu đi
nói chuyện về hiện tượng "người Trung Quốc xấu xí". Những bài nói chuyện của ông
và của những người tranh luận với ông được tập trung lại thành quyển sách.
Xin ghi lại vài nét trong quyển sách của ông:
1: Người Trung Quốc xưa nay có bao giờ biết dân chủ, tự do, pháp trị là gì. Tuy
có người bảo chúng ta cũng có tự do, có thể chửi cả hoàng đế, song thật ra quyền
tự do của chúng ta rất có hạn, bị kẻ thống trị khống chế trong phạm vi cho phép.
Nhân dân nếu được phép chửi hoàng đế chắc cũng chỉ dám lén lút chửi sau lưng.
2: Người Trung Quốc không có cái can đảm dám khen người khác, chỉ có cái dũng
khí dùng để đả kích kẻ khác. Cũng bởi cái "văn hóa hũ tương" của chúng ta quảng
đại tinh thông quá mới làm cho người Trung Quốc thành "cây quýt bên sông Hoài"
tất cả (tích án Tử và vua Sở). Cây quýt này vốn mọc ở một địa phương nọ thì rất
to và ngọt, đem trồng ở một nơi khác, không hợp thủy thổ, thì vừa nhỏ vừa chua
3: Người Trung Quốc sống trường kỳ trong cái hũ tương, lâu ngày quá tự nhiên
sinh ra một tâm lý cẩu thả. Một mặt tự đại khoe khoang, còn mặt khác tự ti, ích
kỷ.
Gíao Sư Trần Duy Nhiên trong tờ Nguyệt San Diển Đàn Gíao Dân số tháng 3 năm 2004
có lập lại những câu này và ông kết luận rằng “ nếu chúng chuyển từ "người Trung
Quốc xấu xí" thành người Việt Nam xấu xí thì liệu bài này có thể chấp nhận
không? (hết) đó vẫn là môt câu hỏi còn thực tế có đúng hay sai thì có lẽ thời
gian sẽ giúp chúng ta trả lời câu hỏi này.
Một câu hỏi khác được đưa ra “Vậy Thượng Đế có muốn cho người Trung Quốc (họăc
chúng ta) có những tâm địa đó không hay vì ý thức cộng đòan của con người vẫn
còn kém.
Xin có hai kết luận:
Thứ nhất con thấy rằng những ai vẫn còn thiết tha với cội nguồn của mình thì
điều thao thức và muốn duy trì và phát triển cộng đồng.
Thứ hai xin mượn lời của Đức Cố Hồng Y Nguyễn Văn Thuận và xin Ngài luôn gìn giữ
cộng đồng chúng ta.
Ngài viết – Ngày nào người Việt hải ngoại không còn ai nói tiếng Việt Nam nữa
thì chúng ta không còn là người Việt Nam nữa.
Lạy chúa, xin cho những gì chúng con làm hôm nay không những mang lợi ích cho
chúng con mà còn những thế hệ mai sau.
Chân thành cảm ơn.
LM Phêrô Dương Thanh Liêm
SỐNG LỜI CHÚA - LỜI ƯỚC ĐẦU NĂM
Tin
từ Điện Vatican sáng sớm Chúa Nhật vừa qua loan báo Đức Thánh Cha Benêđíctô đã
chuẩn y hồ sơ phong thánh cho Nữ Á Thánh Mary MacKillop đã làm nô nức toàn lục
điạ Úc Châu bao la rộng lớn này.
Và chẳng còn bao lâu nữa, Giáo hội Úc Châu sẽ sánh vai cùng các Giáo Hội anh em
cống hiến cho Giáo Hội hoàn vũ một người con vô cùng xứng đáng vừa đuợc tuyển
chọn tôn vinh lên hàng hiển thánh.
Nhưng tiến trình phong thánh đã phải qua một chặng đuờng dài vời muôn vàn ‘thủ
tục hành chánh’ rất gút mắc nhiêu khê! Đúng vào đầu thế kỷ trước, khi Đức Cố
Hồng Y Patrick Moran, Tổng Giám Mục Sydney, đến giã từ Mẹ Thánh Mary đang trong
cơn hấp hối, đã vững tin rằng một ngày nào đó không xa, vị nữ tu bé nhỏ nhưng vô
cùng cương quyết kia sẽ trở thành vị nữ thánh đầu tiên của Úc Châu.
Nhưng ‘cái ngày nào đó không xa’ đã phải mất đi đến 36 năm!!! Những chứng từ về
đời sống của Ngài đuợc bắt đầu thu nhặt góp lượm vào năm 1925 nhưng mãi cho đến
năm 1973 hồ sơ mới đến Giáo triều Vatican và ròng rã những 36 năm sau hồ sơ
phong thánh mới đuợc hoàn tất.
Tuy lâu đấy nhưng rõ ràng thời gian không còn là vấn đề và chúng ta đuợc mời gọi
nên thánh dẫu ở bất cứ nơi đâu nói ngôn ngữ gì và thuộc bất cứ tầng lớp giai cấp
nào trong xã hội.
Như Thánh Simon Phan Đắc Hòa mà Giáo Đoàn Bansktown đã chọn làm thánh Bổn Mạng
và đuợc trọng thể cử hành vào cuối tuần qua: một người cha đáng kính, một người
chồng đức độ và một người công giáo chân chính.
Khi con cái đến thăm Ngài trong ngục thất, Ngài dặn dò “đừng lo gì cho Bố nhưng
hãy gắng giúp đỡ Mẹ.” Rồi quay sang người vợ hiền chung thủy, Ngài ủi an: “Mình
an tâm cố gắng dạy con biết vâng theo Thánh ý Chúa.” Với những bạn tù, Ngài
khuyên “luôn vững tin vào Chúa rất quan phòng.”
Ước mong những lời trăn trối của vị Thánh họ Phan cũng là lời mong ước cầu chúc
của BTU gửi kính đến mỗi từng thành viên CĐ như là hành trang và kim chỉ nam
đang bước vào năm mới.
Luôn tin cậy vào Chúa và luôn nghĩ đến tha nhân là hai phép lạ vô cùng cần thiết
để lời mời gọi nên thánh vang vọng trong tâm hồn mỗi người chúng ta đuợc biến
thành hiện thực.
Lm Nguyễn Khoa Toàn
SỐNG LỜI CHÚA - Cùng Mẹ Sống Mùa Vọng
Trong
Chúa Nhật thứ 4 Mùa Vọng, qua đoạn Tin Mừng Luca, Giáo Hội mời gọi chúng ta sống
tâm tình Mùa Vọng theo tâm tình của Mẹ Maria khi Mẹ đi thăm viếng Bà Isave.
Tâm tình đó là:
1. Sống tin yêu vào Thiên Chúa.
2. Sống theo ý Chúa với tiếng XIN VÂNG.
3. Chuẩn bị tâm hồn đón Chúa đến.
Chúng ta cùng dâng lên Chúa Hài Nhi Giêsu lời nguyện Mùa Vọng:
Lạy Chúa Giêsu, xin hãy đến.
Xin hãy bước vào những yếu đuối của chúng con. Xin hãy bước vào những nỗi sợ hãi
của chúng con.
Xin hãy bước vào những lo lắng của chúng con. Xin hãy bước vào những thất bại
của chúng con.
Xin hãy bước vào những chia rẽ của chúng con. Xin hãy bước vào những buồn phiền
của chúng con.
Xin hãy bước vào những cô đơn của chúng con. Xin hãy bước vào những bóng tối của
chúng con.
Xin hãy bước vào những hoài nghi của chúng con. Xin hãy bước vào những thất vọng
của chúng con.
Xin hãy bước vào những nghèo hèn của chúng con. Xin hãy bước vào cuộc tìm kiếm
của chúng con.
Xin hãy bước vào những niềm vui và hy vọng của chúng con. Xin hãy bước vào cuộc
hấp hối của chúng con.
Lạy Chúa Giêsu, xin hãy đến. Amen.
Linh Mục Chu Văn Chi
SỐNG LỜI CHÚA - “Chúng Tôi Phải Làm Gì?”
Cách
đây không lâu, con tình cờ đọc được những hàng chữ trong Sách Luận Ngữ của Khổng
Phu Tử nêu lên bốn cái ưu tư của ông "thời bình sinh" xin được chia sẽ với quí
ông bà anh chi em trong tuần thứ 3 của Mùa Vọng năm nay. 1/ Đức chi bất tu - đức
hạnh không lo tu dưỡng; 2/ Học chi bất giảng - có học vấn mà không lo truyền thụ
cho người khác; 3/ Văn nghĩa bất năng đồ - nhìn thấy việc nghĩa mà không lo làm;
4/ Bất thiện bất năng cải - thấy sai lầm mà không chịu sửa đổi cải hóa, thì ngô
ưu dã - những điều ấy là nỗi lo của ta vậy.”
Khổng Phu Tử sinh vào sinh năm 551 và qua đời năm 479 trước Công Nguyên. Những
lời giáo huấn của ông đã thấm nhuần nền văn hóa Trung Hoa, Việt Nam và một số
nước ở Đông Nam Á. Ông luôn kêu gọi mọi người biết tu dưỡng đức hạnh, biết
truyền thụ những văn hóa tốt đẹp cho người khác, biết trọng chữ nghĩa và đem ra
thực hành, biết sửa đổi và cải hóa những sai lầm trong đời sống thường nhật. Ông
đã nêu lên những căn bản, những con đường tiêu biểu về phương cách làm người.
Các bài đọc tuần lễ thứ ba của Mùa Vọng năm nay, bắt đầu bằng một câu hỏi “chúng
tôi phải làm gì?” Một câu hỏi thật đơn sơ, dễ thương và đáng trân trọng của
những người Do Thái đặt ra với Thánh Gio-an Tiền Hô. Khác với Khổng Tử, Thánh
Goan Tiền Hô đã trả lời câu hỏi này một cách rất rõ ràng nhưng không dễ đễ thực
hiện, Ông trả lời: “Ai có hai áo, thì chia cho người không có; ai có gì ăn, thì
cũng làm như vậy.”… “Đừng đòi hỏi gì quá mức đã ấn định cho các anh.”… “Chớ hà
hiếp ai, cũng đừng tống tiền người ta, hãy an phận với số lương của mình.”
Trong cuộc sống ít ai có thể cho những gì mình không có nhưng lại càng khó khi
chúng ta cho đi những gì mình đang có. Như câu chuyện của người nhà giáo hỏi
Chúa Giêsu làm thế nào mới có thể thừa hưởng gia tài Thiên Quốc, có phải tôi
không làm hại ai, và yêu mến mọi người là đủ rồi? Nhưng Chúa lại bảo hãy bán
những gì anh có rồi cho người rồi theo ta! Và câu chuyện kết thúc thế nào thì đã
rõ, anh lặng lẽ ra đi và Chúa nhìn theo anh với tình thương khôn tả.
Chúa Nhật màu hồng hôm nay là cơ hội để chúng ta có thể tự hỏi mình rằng “tôi
phải làm gì trong Mùa Vọng năm nay?” Đã bao lần tôi có hai áo mà lại không chia
cho người không có! Đã bao lần tôi đã quay lưng làm ngơ trước sự bất công, khó
nhọc và nghèo khổ của người khác! Đã bao lần tôi đã lặng lẽ ra đi dù biết rằng
Chúa vẫn nhìn theo tôi bằng một tình yêu tuyệt đối!
Tôi phải làm gì khi biết rằng thì gian tôi có chỉ ngắn ngủi mà thôi? Có lẽ tôi
sẻ làm điều mà tôi có thể làm hôm nay vì có khi ngày mai sẽ không bao giờ đến
với tôi. Hãy phục vụ trong yêu thương và cho đi những gì mình có, đôi khi chỉ
cần một lời nói thân thiện, một cử chỉ dịu dàn đầy tình người cũng là một cách
cho đi đầy ý nghĩa trong mùa vọng năm nay.
Mến chúc quý ông bà anh chị em một Mùa Vọng đầy thánh ân và Giáng Sinh thánh đức
bình an.
LM Dương Thanh Liêm
SỐNG LỜI CHÚA - Niềm Vui Của Mùa Vọng
Gioan
Tẩy giả là một tiên tri được chọn trong vai trò của một người dọn đường cho việc
ngự đến của Đấng Cứu Thế ở giữa Dân Người. Ngài ra khỏi sa mạc và đã thu hút dân
chúng qua lời loan báo rằng ngày cứu độ mà mọi người từ lâu mong đợi đang đến
gần. Lời công bố của ngài sắc bén như ngọn roi quất vào tâm hồn dân chúng khi
ngài khiển trách về lối sống vô trách nhiệm và hờ hững của họ. Sứ điệp của ngài
rất đơn giản. Hãy ăn năn thống hối, canh tân đời sống bằng cầu nguyện, ăn chay
hãm mình vì nước trời đã gần đến. Tiếng nói của Gioan Tẩy Giả cũng là những lời
cảnh tỉnh cho con người trong mọi thời đại và thúc giục chúng ta hãy dọn sẵn một
chỗ trong tâm hồn để Thiên Chúa ngự vào.
Mùa Vọng là lời mời gọi để biến đổi và Gioan Tẩy giả đề nghị cho chúng ta một
cách thức có thể để thay đổi cuộc sống được tốt hơn. Ngài đề nghị hãy lấp mọi hố
sâu của thành kiến, hãy bạt mọi núi đồi của kiêu ngạo và hãy làm cho ngay thẳng
mọi con đường cong queo của bất công. Tâm hồn chúng ta luôn có những khía cạnh
đen tối nhưng chúng ta lại không muốn khuấy động ngay cả biết rằng chúng là
những chướng ngại ngăn cản để Chúa bước vào tận đáy lòng của mình. Mùa vọng là
cơ hội để làm lại từ đầu, để dẹp tan những chướng ngại đó, nếu chúng ta muốn đời
sống tâm linh không bị khô héo. Đây cũng là thời gian đòi hỏi chúng ta hãy lắng
nghe những gì Chúa muốn nói cho mình, và hãy cho phép Lời Chúa tác động để qua
đó tâm hồn được biến đổi.
Tin Mừng hôm nay mời gọi chúng ta hãy tự hỏi xem trong cuộc sống điều gì chúng
ta cần thay đổi để cho phép Chúa ngự vào tâm hồn. Chào mừng Chúa đến là loại bỏ
tất cả những chướng ngại có thể ngăn cản việc Chúa đến với chúng ta. Dọn đường
cho Chúa là đi một con đường mới. Chúa Kitô không thể cứu độ chúng ta nếu chúng
ta không họp tác với Người. Chúa không thể tự động bước vào cuộc sống của mình
nhưng chờ đợi chúng ta mở rộng tâm hồn để Người bước vào.
Tiếng kêu của Gioan Tẩy Giả nhắc chúng ta về trách nhiệm loan báo Chúa Kitô cho
nguời khác. Mỗi ngày của cuộc sống là một sứ điệp loan báo Chúa Kitô cho người
khác bằng hành động của mình để họ nhận ra rằng Chúa Kitô đang ở ngay tại đây
với họ. Chúng ta là một quyển sách nói về Chúa Kitô mà nhiểu người sẽ đọc và Tin
Mừng về tình yêu của Chúa là câu trả cho những vấn nạn mà thế giới đang đối
diện. Gioan Tẩy Giả mời gọi chúng ta hãy làm cho mùa vọng này trở thành một cuộc
trở về tâm linh thực sự bằng cách làm mọi sự cần thiết để chuẩn bị cho việc ngự
đến của Đấng Cứu Thế vào tâm hồn của mình.
Lm Nguyễn Văn Tuyết
SỐNG LỜI CHÚA - MÙA KHÔNG THỂ LÃNG QUÊN
Khi
tuyết bắt đầu rơi ở Bắc bán cầu và khi từng đoàn người chen chúc nhau tắm nắng ở
vùng cầu phía Nam, mùa Vọng –mùa của những đợi chờ- đã đến.
Nhưng thường khi mùa của những đợi chờ này hoặc bị hờ hững lãng quên hoặc bị đê
mê cuốn hút vào những tiệc tùng đình đám cuối năm nên đã mất đi nhiều phần ý
nghĩa.
Điều đầu tiên cần chút lưu tâm là màu tím –màu của mùa Vọng. Và cả của mùa Chay.
Theo truyền thuyết, màu tím là màu biểu trưng cho vương quyền.
Chọn màu tím cho mùa Vọng và cũng chọn màu tím cho mùa Chay, có phải chăng là
một nhắc nhở về Vua Kitô đã sinh ra trong cảnh nghèo hèn và cũng chính Vua của
muôn vua kia đã hy sinh chính xác thân mình cho toàn nhân loại.
Thật thế, bài Phúc Âm thánh Luca mở đầu năm C Phụng Vụ trích từ phần cuối của
chương 21. Và ba chương còn lại thuật lại những giây phút cuối đời của Người. Có
nói qúa không khi thai nhi Giêsu đã linh cảm đuợc sứ vụ cứu chuộc khi chưa lìa
cuống rốn!?
Vì thế, màu tím chẳng những nhắc nhở về sự chào đời và lìa đời của Con Đấng Chí
Tôn mà còn là một cảnh tỉnh để chuẩn bị sẵn sàng cho ngày sau hết.
Chúa Nhật thứ nhất mùa Vọng cũng là ngày đầu năm Phụng Vụ với những “điềm lạ
trên trời ” và những “buồn rầu lo lắng” dưới đất. Nhưng không phải vì thế mà
“chè chén say sưa”; trái lại, phải “tỉnh thức và cầu nguyện luôn”chuẩn bị đón
“Con Người hiện đến đầy quyền năng và uy nghi cao cả.”
Chân sẽ không “đứng vững trước mặt Con Người” vào ngày sau hết nếu ngày đầu năm
lòng trí đã vội vô tình thờ ơ với những ngày đầu đời của chính Con Người. Hãy
đừng quên là ngày Con Người nghèo khó giáng sinh cũng là dấu chỉ ngày Con Người
một ngày mai không xa vinh quang hiện đến.
Khi những cây nến hy vọng, bình an, vui mừng và tin yêu được tuần tự thắp lên
báo hiệu một vì sao lạ sắp hào quang tỏa chiếu, hãy “đứng dậy và ngẩng đầu lên”
để chuẩn bị cho một trời mới và đất mới. Mùa Vọng, vì thế, là mùa không thể lãng
quên.
Lm Nguyễn Khoa Toàn
SỐNG LỜI CHÚA - NHỮNG VỊ THÁNH KHÔNG TÊN
Nếu
có dịp đến thăm Nhà Thờ Nữ Vương Các Thiên Thần tại Los Angeles, bạn sẽ có có
hội chiêm ngắm những tranh vẽ các Thánh Nam Nữ trên các bờ tường.
Có những Thánh nghe đã quen tai và tên của họ đuợc in đậm nét. Như Phanxicô. Như
Tôma Aquinô và Âugustinô. Như Clare và Têrêsa v.v...
Nhưng lẫn trong những vị Thánh nổi danh kim cổ kia cũng có hình những vị Thánh
chưa một ai biết đến? Ngụ ý có lẽ chỉ duy nhất một mình Chúa mới biết họ là
ai...
Và đó cũng là ý nghĩa của Lễ Các Thánh Nam Nữ: những vị Thánh danh tiếng cổ kim
cùng những vị Thánh không tên không tuổi đang cầu bầu cùng Chúa để qua ân sủng
Người, chúng ta cũng đuợc tôi luyện trở nên thánh thiện như họ.
Nghe có vẻ đài các, kiêu căng, khoe khoang, trịch thượng? Thưa không! Trái lại,
cùng đích của đời sống chân chính của mỗi Kitô hữu là gì nếu không phải là đuợc
trở nên thánh thiện công chính như Thiên Chúa chúng ta?
“Không có một con đuờng duy nhất nào để trở thành Thánh,” Đức Cố Giáo Hoàng
Gioan Phaolô II –người đã nâng lên hàng hiển thánh nhiều giáo sĩ giáo dân từ
khắp các miền lục điạ- đã nhiều lần công khai tuyên bố. Họ cũng là những người
–như bạn và tôi- âm thầm chọn Tám Mối Phúc Thật là kim chỉ nam của đời sống mỗi
phút mỗi giây. Khi bình minh lên khi hoàng hôn xuống. Cho đến khi lực tàn sức
cạn. Cho đến ngày nhắm mắt xuôi tay...
Phúc cho ai có tinh thần nghèo khó và có lòng trong sạch. Cũng phúc cho ai bị
ghen ghét, vu khống, bách hại nhưng lại rất hòa thuận, hiền lành và biết xót
thương người. Phúc cho ai đói khát điều công chính vì Nước Trời là của họ.
Con đuờng nên thánh không phải là làm những việc vĩ đại với tâm hồn gim ghút
chật hẹp tầm thường, nhưng là khiêm cung nhẫn nại làm những việc rất đỗi bình
thường bằng một tâm hồn vĩ đại.
Như Mẹ Thánh Têrêsa thành Calcutta đã sống, đã từng...
Lm Nguyễn Khoa Toàn
SỐNG LỜI CHÚA - Đứng trên tiền
Người
ta kể lại rằng có một người giàu có thường xuyên đến xưng tội với thánh
Philipphê Nêri. Ông có nhiều tiền của, có thiện chí, nhưng ông vẫn cảm thấy mình
không đạt được sự tiến bộ nào trên đường thiêng liêng.
Từ chán nản đến thất vọng, cuối cùng ông bỏ cuộc và không trở lại xưng tội với
thánh nhân nữa. Thấy ông đã lâu không đến xưng tội, thánh nhân tìm đến nhà ông.
Sau một hồi trò chuyện, ngài nhìn lên cây Thánh giá trên tường, ngài cân nhắc
độ cao của Thánh giá rồi đề nghị với người đàn ông giầu có :"Ông là người cao
lớn, ông thử với coi có tới Thánh giá không". Ông đứng dậy giơ cánh tay lên cố
với nhưng không thể nào chạm tới Chúa Giêsu trên Thánh giá.
Bấy giờ thánh Philipphê dùng hết sức đẩy cái hòm tiền của người giàu đến bên
cạnh ông và bảo ông hãy đứng lên trên cái hòm tiền để với tới cây Thánh giá. Ông
làm theo ý thánh nhân và sờ được Chúa Giêsu trên Thánh giá.
Sau đó ngài nói với ông :"Để có thể nắm lấy được Chúa Giêsu, để có thể tiến bộ
trên đường thiêng liêng, chúng ta cần phải đứng trên tiền bạc của cải".
“Thưa Thầy nhân lành, tôi phải làm gì để được sự sống đời đời làm gia nghiệp?”
(Mc 10:17). Có ai trong chúng ta đã từng đặt những câu hỏi tương tự như
vậy chưa?
Chàng thanh niên giàu có chẳng thiếu thứ gì trên đời. Nhưng anh vẫn không cảm
thấy hạnh phúc. Anh thấy còn thiếu cái gì đó trong cuộc đời. Anh ưu tư kiếm
tìm. Bởi đó, anh đã nêu thắc mắc với Chúa Giêsu. “Thưa Thầy nhân lành, tôi phải
làm gì để được sự sống đời đời làm gia nghiệp? Anh tin Chúa Giêsu sẽ trả lời
dứt khoát và rõ ràng về vấn đề quan trọng cho cuộc đời anh.
Xưa nay anh cứ tưởng rằng một đời sống luân lý hoàn hảo bằng cách giữ các
lề luật là bảo đảm về mặt thiêng liêng và rằng tiền bạc đầy đủ sẽ
cho anh tâm hồn bình an thư thái hạnh phúc. Nhưng trước câu trả lời của
Chúa Giêsu: "Anh chỉ thiếu có một điều, là hãy đi bán những gì anh có mà cho
người nghèo, anh sẽ được một kho tàng trên trời. Rồi hãy đến theo tôi", anh ta
thất vọng. Trước kia anh cho rằng hạnh phúc là phải làm ra tiền và sở hữu
nhiều tiền, thì nay hạnh phúc thật là quan tâm tới người nghèo và đi theo
Chúa.
Chúng ta thấy rằng anh thanh niên trong Tin Mừng hôm nay là người có thiện
chí, nhưng thiện chí nửa vời vì anh không dám từ bỏ những gì anh có để
theo Chúa Giêsu, nguồn hạnh phúc đích thực.
Tiền bạc mê hoặc lòng người. Người ta thường nói rằng tiền là tiên là
phật, là sức bật lò xo, là thước đo lòng người, là nụ cười tuổi
trẻ, là sức khỏe cụ già, là cái đà danh vọng, là cái lộng che thân,
là cái cân công lý. Có tiền là ‘hết ý’. Ai có can đảm để thoát được ma
lực của đồng tiền?
Chúa Giêsu cho chúng ta thấy rằng có những giá trị không thể mua bằng tiền.
Những giá trị này đòi hỏi chúng ta, một mặt, đặt vật chất nói chung
và tiền bạc nói riêng vào đúng vị trí của nó trong cuộc sống. Mặt
khác, khi có sự xung khắc giữa giá trị thiêng liêng và giá trị vật
chất, chúng ta cần hi sinh giá trị sau cho giá trị trước.
Phó tế Đặng Đình Nên
SỐNG LỜI CHÚA - Tính Phổ Quát Của Việc Bác Ái - Từ Thiện
Các
môn đệ cảm thấy không hài lòng khi nhìn thấy một người ngoài nhóm 12 nhân danh
Chúa trừ quỷ. Các ông bực bội, ganh tị và cảm thấy bị đe dọa, bởi vì người này
làm công việc mà các ông cho là đặc quyền của riêng họ.
Đối với các tông đồ, những người này không thuộc nhóm 12 nên không có quyền dùng
tên Chúa Giêsu của họ, vì thế Gioan đã lên tiếng phàn nàn với hi vọng là những
người giảng đạo trái phép này phải bị cấm: “Lạy Thầy, chúng con thấy có kẻ nhân
danh Thầy mà trừ quỷ, kẻ đó không theo chúng ta, và chúng con đã ngăn cấm y” (Mk
9:38); thế nhưng, có lẽ thánh Gioan đã kinh ngạc khi Chúa từ chối để ngăn cấm
những người nhân danh Chúa làm việc bác ái: “Đừng ngăn cấm y, vì chẳng ai có thể
nhân danh Thầy mà làm phép lạ, rồi liền đó lại nói xấu Thầy” (Mk 9:39). Chúa còn
nói thêm: “Ai chẳng chống đối các con, là ủng hộ các con. Ai nhân danh Thầy mà
cho các con một ly nước vì lẽ các con thuộc về Đấng Kitô, Thầy bảo thật các con:
Kẻ đó sẽ không mất phần thưởng đâu” (v.41).
Một cách rõ ràng, qua lời này, Chúa dạy các môn đệ rằng mọi việc tốt lành đều
phát xuất từ Thiên Chúa, rằng làm việc bác ái không phải là độc quyền của riêng
ai, và rằng Thiên Chúa có quyền đi và đến nơi nào Người thích, và có quyền chọn
những ai Người thích chọn. Công việc của Người vượt qua khuôn khổ suy tư về tôn
giáo mà con người suy nghĩ.
Là một người được rửa tội, chúng ta dễ để bị rơi vào cạm bẩy theo lối suy nghĩ
và khái niệm thiếu chính xác rằng chỉ có Kitô hữu mới có thể làm những việc bác
ái, từ thiện. Khi nghĩ theo chiều hướng này, chúng ta có nguy cơ để chối từ
những công việc từ thiện do người khác thực hiện mà quên rằng một việc làm tốt
và thánh thiện có thể được thực hiện bởi một người không phải là một Kitô hữu
bởi vì sự thánh thiện phát xuất từ Thiên Chúa chứ không phải từ con người.
Trong cuộc sống, chúng ta có thể cách này hay cách khác đã chứng kiến một sự
cạnh tranh không lành mạnh giữa các tổ chức hay các giáo xứ khác nhau trong Hội
Thánh, mặc dầu tất cả đề có cùng một mục đích là mở rộng nước trời. Mục đích của
việc chúng ta làm rất hữu ích, tuy nhiên, nhiều khi cách chúng ta làm có thể
khiến cho người khác có cảm tưởng rằng việc làm tốt lành là đặc quyền của một
nhóm nào đó nhân danh con người hơn là việc làm có tính phổ quát nhân danh Thiên
Chúa.
Tin Mừng dạy rằng bất cứ người thiện tâm nào làm việc theo đường lối của Chúa
đều đem lại ân sủng cho thế giới. Hoạt động của Chúa không giới hạn đối với giai
cấp nào trong xã hội. Người có thể gởi sứ điệp của Người cho chúng ta qua những
biến cố mà chúng ta không ngờ. Thế giới đang được Chúa Thánh Thần hướng dẫn.
Chúng ta cần mở rộng tâm hồn để qua những việc tốt lành mà những người khác đang
làm để nhờ đó nhận ra sự hiện diện của Chúa Thánh Thần giữa chúng ta.
LM. FX Nguyễn Văn Tuyết
SỐNG LỜI CHÚA - Hãy trở thành những người xây đắp an bình, yêu thương và hạnh phúc
Là
con người thì khó có ai thoát khỏi tham vọng. Tham vọng là những gì mình muốn,
mình ao ước có được mặc dù nó quá xa với khả năng của mình. Nhưng có ai nghĩ
rằng một người có tham vọng sẽ dễ thành đạt hơn là người chẳng có tham vọng
không? Điều gì cũng có hai mặt của nó. Tham vọng sẽ dẫn ta đến con đường thành
đạt, nó là lý do là nguyên nhân làm ta phấn đấu, giúp ta có ý chí và quyết tâm.
Nếu ta thích một điều gì đó mà ta không thể có được nó nhưng ta vẫn cố hết sức
để có được nó đó chính là tham vọng.
Vậy “tham” là khi mình muốn có thêm còn “vọng” thì có ba nghĩa khác nhau. Nghĩa
thứ nhất là “xem” cho nên chúng ta mới có “Vọng Nguyệt Đài” nghĩa là dựng đài để
xem trăng. Nghĩa thứ hai là “chờ đợi” hy vọng là khi mình chờ đợi một cái gì tốt
đẹp sẽ đến vì vậy chúng ta mới có “mùa vọng”. Nghĩa thứ ba mà chúng ta muốn nói
đến đó là chữ vong đi đôi với 2 chữ - chữ “vọng” (cũng đồng nghĩa với chữ “mất”)
và chữ “nữ” cho nên người Trung Hoa họ cho rằng nếu trong nhà mất đi người nữ
thì căn nhà sẽ trở nên hỗn loạn hoặc điên rồ. Cho nên tham vọng ngoài ý tưởng
thì đôi lúc sẽ trở nên điên rồ.
Tham vọng về địa vị, giàu sang, hay để người đời kính sợ là những yếu tố mà Chúa
Giêsu cần các môn đệ của Người phải tránh xa. Vì các ông đang bàn tính xem ai sẽ
cao trọng hơn ai. Nhưng đó không phải là lý do mà Chúa Giêsu đến với nhân loại.
Người đến không phải vì muốn địa vị cao trọng hay giàu sang hoặc để người đời
kính sợ nhưng Người đến vì yêu thương nhân loại. Vì thế Chúa Giêsu nói “Ai đón
nhận một trong những trẻ nhỏ này vì danh Thầy là đón tiếp chính Thầy…và đón tiếp
Đấng đã sai Thầy.” Vì nếu một người có tham vọng về địa vị, quyền lực hay tiền
tài thì không để ý các trẻ nhỏ làm gì, vì sao? Cũng dễ hiểu, vì những trẻ nhỏ
không thể nào mang đến cho họ những thứ đó, bởi những gì trẻ nhỏ cần không phải
là địa vị cao sang hay quyền thế hoặc muốn người đời kính sợ nhưng cái các trẻ
nhỏ cần và muốn đó chính là tình yêu.
Chúa Giêsu một lần nữa nhắc nhở các môn đệ cũng như mõi người chúng ta rằng,
theo Ngài là theo giới luật yêu thương. Vì những tham vọng về địa vị cao sang đễ
mọi người kính sợ thì chỉ làm con người xa lìa Thiên Chúa. Như Thánh Giacôbê
trong bài đọc hai đã viết “Anh chị em ham muốn mà không được hưởng nên anh em
giết nhau, anh em ganh tị mà không được mãn nguyện nên anh em cạnh tranh và cãi
cọ.” Tham vọng quá mức sẽ dẫn đến sự điên rồ hay cuồn tính và chữ “cuồn” cũng
đồng nghĩ với chữ “thú.”
Vậy muốn làm tan biến những tham vọng quá mức việc trước tiên như Thánh Giacôbê
đã khuyên là anh chị em phải trong trắng rồi ôn hòa, bao dung, nhu mì, hướng
thiện, đầy lònh nhân từ, không xét đoán thiên vị, không giả dối và hãy trở thành
những người xây đấp an bình, yêu thương và hạnh phúc. Amen.
Lm Dương Thanh Liêm
SỐNG LỜI CHÚA - Mảnh Đất Thánh
«
Ai muốn theo Ta, hãy từ bỏ mình, vác thập giá mình mà theo Ta »
Chúng ta thường lên án đau khổ và tránh né nó. Nhiều khi chúng ta không biết
giá trị tích cực của nó đem lại cho đời mỗi người chúng ta. Nói một cách khác,
chúng ta không biết biến đổi đau khổ thành khí cụ giúp ta thanh luyện con người
chúng ta. Khổng Tử nói: Ngọc không dũa không sáng, người không bị gian nan thử
thách, thì cũng khó mà trở nên hoàn thiện.
Để thay đổi thái độ của chúng ta đối với đau khổ là chấp nhận sự thật rằng mọi
sự xảy ra cho chúng ta đều đã được hoạch định để giúp chúng ta lớn lên về mặt
tinh thần. Nichol nói một câu tuyệt vời: “Chúng ta không thể thất bại một khi mà
chúng ta nhận ra rằng mọi sự xảy ra cho mình đều đã được hoạch định để dạy mình
nên thánh.”
Bà Golda Meir là một phụ nữ có sắc đẹp khiêm nhường. Lúc đầu bà rất thất vọng và
buồn phiền cho thân phận xí của mình. May thay, bà nhận ra rằng phụ nữ không chỉ
được đề cao về sắc đẹp mà còn cả về tài năng nữa. Chính vì thế sau này bà đã thú
nhận, không được đẹp đối với bà lại là một hồng ân. vì đó là cơ hội để bà nhận
ra những món qùa bí ẩn mà bà cần phải nhận ra và phát triển chúng để mang lợi
ích cho bàn bản thân và xã hội. Nói cách khác, bà đã vui vẻ chấp nhận đau khổ và
hân hoan vác thâp gía lên vai để biến thánh ân phúc Và kết qủa, bà đã trở thành
vị nữ thủ tướng để lãnh đạo dân tộc Do Thái.
Như thế chúng ta có thể nói đau khổ sẽ giúp chúng ta nhận ra lòng yêu thương của
Thiên Chúa nhân lành. Cũng như giữa ánh sáng chan hòa của mặt trời, chúng ta khó
nhìn thấy những vì sao lung linh trên vòm trời, nhưng, vào những đêm khuya tăm
tối chúng ta sẽ dễ dàng thấy chúng. Cũng vậy, nhiều người trong chúng ta đã nhận
ra Chúa giữa những khổ đau ê chề, mà trong những lúc hân hoan và vui tươi chúng
ta không thấy Người.
Oscar Wilde đã viết: « Đau khổ chính là mảnh đất thánh.»
Nếu ta hiểu thánh gía hay đau khổ một cách tích cực chúng ta sẽ thấy lời Chúa
Giêsu đã phán qua đoạn Tin mừng: « Ai muốn theo Ta, hãy từ bỏ mình, vác thập giá
mình mà theo Ta » một tia sáng mới vì dưới ánh sáng Phúc âm, thì đau khổ không
hẳn sẽ đem lại tai ương và mất mát, trái lại nó có thể trở nên mảnh đất thánh,
một nguồn sống để chúng ta có cơ may thành thánh. Nên mọi người chúng ta được
mời gọi học biết đón nhận thánh giá trong cuộc đời, bởi vì tất cả là hồng ân.
Thầy Đặng đình Nên
SỐNG LỜI CHÚA - “Cái Gì Thế?”
“Cái
gì thế?” là tựa đề của một cuốn phim rất ngắn của đạo diễn Hy lạp Constantin
Pilavios.
Chuyện phim thật vô cùng đơn giản về hai cha con ngồi hong nắng trước sân nhà.
Người cha mắt đã nhòa nhưng đôi tai còn thính lắm. Người con ngồi đọc báo cạnh
bên cơ hồ như không để ý lắm đến thế giới chung quanh.
Đột nhiên, một con chim sẻ bay sà đến. “Cái gì thế?” người cha nhíu mày hỏi.
“Con chim sẻ,” người con hững hờ đáp mắt vẫn dán chặt vào tờ báo trên tay.
Chú chim non tung tăng chuyền từ cành này sang cành khác miệng líu lót huyên
thuyên. “Cái gì thế?” người cha lại hỏi. “Con vừa bảo đó là con chim sẻ,” người
con cao giọng ra chiều khó chịu.
Tiếng chim rộn rã hơn và người cha không kìm hãm đuơc sự tò mỏ: “Cái gì thế?”
Quay sang cha mình, người con hét lớn: “Con chim sẻ. Sờ e se hỏi sẻ, Bố nghe
chưa?”
Như muốn thấy đuợc bóng dáng con chim, người cha nhướng mắt nhìn khi tiếng hót
mỗi lúc mỗi thêm vang vọng: “Cái gì thế?” Liệng mạnh tờ báo xuống, người con gằn
từng tiếng tức tối: “Bố có điếc không hử!? Con đã nói ba lần rồi là con chim
sẻ!?”
Người cha già chậm rãi đứng dậy đi vào nhà. “Đi đâu thế?” người con gặn hỏi
nhưng duờng như cảm thấy hối hận về sự giận dữ vô lý của mình. Một thoáng sau,
bước ra với cuốn tập nhỏ trên tay rồi chỉ vào một trang, người cha khẻ nói: “Đọc
đi”.
Nhướng to đôi mắt, người con lần đọc từng chữ trên trang nhật ký úa vàng của cha
mình: “…Sáng hôm nay, mình ngồi đọc báo trước sân nhà với đứa con trai đầu lòng.
Đột nhiên, có một con chim sẻ bay sà đến và con mình tò mò hỏi: “Cái gì thế?”
Con chim cứ tung tăng bay đi luợn lại miệng hót ríu rít và thằng bé cứ huyên
thuyên hỏi “Cái gì thế?” đến những 21 lần cho đến khi chim vụt cánh bay xa. Mỗi
lần con hỏi, mình vừa nói “con chim sẻ” vừa trìu mến xiết mạnh con vào lòng trân
qúy nét hồn nhiên trên khuôn mặt đứa con mới lên ba rất đỗi ngây thơ…”
Cuốn phim kết thúc khi người con mắt đã nhòa đẫm lệ quay sang ôm chặt lấy cha
mình...
Lm Nguyễn Khoa Toàn.
SỐNG LỜI CHÚA - Tôn Giáo Đích Thực
Một
câu chuyện ngụ ngôn kể rằng có một nhà phát minh nọ, sau khi đã tìm được kỷ
thuật làm ra lửa, ông đã đi từ bộ lạc này sang bộ lạc khác để quảng bá kỷ thuật
của mình. Mặc dầu có nhiều bộ lạc tiếp thu kỷ thuật của ông mà không hề bày tỏ
một dấu hiệu nào của lòng biết ơn. Nhưng ông không màn đến chuyện người ta biết
ơn hay phản bội. Niềm hạnh phúc của ông là thấy được càng ngày càng có nhiều
người hưởng được lợi ích mà phát minh của ông đem lại. Giống như những bộ lạc
trước, bộ lạc cuối cùng cũng vui mừng đón tiếp ông. Nhưng không mấy chốc, các tư
tế trong bộ lạc tỏ lòng ghen tức, họ âm mưu sát hại ông để xóa bỏ mọi ảnh hưởng
của ông. Sau khi mưu sát, để đánh tan mọi nghi ngờ, họ cho vẽ bức chân dung của
ông và đặt trên bàn thờ. Trong mọi nghi thức tế tự, tên của ông được thành kính
nhắc đến như một đại ân nhân của bộ lạc.
Vị Thượng tế của bộ lạc cũng nhận trách nhiệm biên soạn tiểu sử của vị phát
minh. Quyển tiểu sử ấy trở thành một thứ sách thánh trong đó gương sáng, đời
sống gương mẫu của vị đại ân nhân được ca tụng và đề ra như lý tưởng cho mọi
người phải noi theo. Các tư tế cũng tự ban cho họ quyền giải thích các lời răn
dạy của vị phát minh. Ðể đảm bảo tính cách tinh ròng của những lời răn dạy đó,
các tư tế ra vạ tuyệt thông cho tất cả những ai không chấp nhận những lời giải
thích của họ. Dân chúng sợ hãi đến độ dần dà chỉ còn biết đến những lời giải
thích của các vị tư tế và quên hẳn đi kỷ thuật làm ra lửa.
Chuyện ngụ ngôn này muốn nhắc chúng ta rằng cái khuynh hướng chung của chúng ta
là dễ bị cám dỗ để nhìn vào đạo của mình như một hệ thống của những cơ cấu, và
nghi thức, của những điều phải tin, phải giữ, nhưng lại quên đi cái cốt lõi của
đạo là tình yêu.
Tin mừng hôm nay, Chúa chỉ trích luật sĩ và biệt phái là vì họ chỉ lo lắng đến
lề luật nhưng không để ý đến lý do của lề luật. Họ quá đặt nặng hình thức bên
ngoài mà quên đi điều quan trọng hơn: Mến Chúa và yêu người. Dân này sùng kính
ta ngoài môi miệng, nhưng lòng chúng ở xa ta... Vì các ngươi bỏ qua các giới răn
Thiên Chúa, để nắm giữ tập tục loài người. Quên đi cốt lõi của Tin Mừng là Yêu
Thương, chúng ta cũng loại bỏ chính Chúa Kitô ra khỏi cuộc sống của mình.
Lm FX Nguyễn Văn Tuyết
SỐNG LỜI CHÚA - Giá Trị Của Một Gia Đình Hạnh Phúc
Theo
cách nói thông thường nhưng không kém phần quan trọng đó là: Gia đình là nền
tảng của Xã Hội và Giáo Hội. Nếu thật sự như thế thì câu hỏi tiếp theo phải là:
Gia đình như thế nào mới có thể là nền tảng của Xã Hội và Giáo Hội? Lịch sử nhân
loại cho thấy rằng con người ai cũng mơ uớc có một mái ấm gia đình hạnh phúc.
Nhưng vào những thập niên gần đây tỉ lệ gia đình đổ vỡ hình như đang trên đà
phát triển. Ngày nay con số ly dị đã trên 50% một con số có thể nói là trầm
trọng. Đáng lý ra với những phương tiện vật chất và phát triển về nhân bản cũng
như kiến thức thì con số ly dị sẽ thấp hơn so với những thập niên truớc đây.
Phải chăng con người ngày nay đã suy nghĩ sai lệt về ý nghĩa cũng như sứ mệnh
của gia đình?
Theo thông thưong yếu tố để đôi bạn trẻ bước vào đời sống hôn nhân chíng là TÌNH
YÊU. Yêu mới cưới chứ không yêu cưới làm gì. Nhưng đôi khi đôi bạn trẻ không
phân biệt sự khác biệt giữa tình yêu bồng bột và tình yêu chân thật. Tình yêu
bồng bột có thể hiểu theo cảm xúc, nhưng họ quên rằng cảm xúc con người quá dễ
thay đổi. còn tình yêu chân thật là tình yêu không những chỉ cảm xúc mà thôi
nhưng là yêu “như chính thân mình (Ep 5:21-32)” Vi khi yêu “như chính thân mình”
thì ý nghĩa của sự “nên một” như Đức kitô đã mạc khải cho nhân loại mới có thể
trở thành hiện thực. Nên môt không đồng nghĩa với giống nhau. Không ai có thể
đem hai cá thể riêng biệt rồi bảo họ phải giống nhau hoàn toàn nhưng nên môt là
khi nhìn ra những cái khác biệt rồi chấp nhận và chính lúc chúng ta chấp nhận
những khác biệt cũng chính là lúc chúng ta trở nên một-chung chí hướng-chung
tinh thần- chung thần khí…
Trong bài phúc âm hôm nay, Chúa Giêsu mạc khải cho chúng ta thấy về ý nghĩa xâu
xa của đời sống đức tin và đời sống gia đình là chỉ có tình yêu chân thật và
thần khí mới làm cho sống, chứ xác thịt thì không vì thần khí là sự sống còn xác
thịt thì ngược lại. Cho nên có vài môn đệ Chúa không chấp nhân Đức Kitô là bánh
bởi trời, bánh bang sự sống đời vì thế vài môn đệ đã có ý đình rời bỏ Ngài. Phải
chăng họ chỉ yêu Chúa vì Chúa cho thể xác họ ăn bánh no ne còn tâm hồn thì hòan
toàn không có Chúa. Vì thế nếu con người đến với nhau bằng thể xác mà thoi thì
cũng sẽ kết thúc từ đó. Cho nên Thánh Paulô đã nhận thức rằng sự liên kết giữa
vợ chồng cao cả như Đức Kitô và Hôi Thánh vì thế Thánh nhân đã viết “…người
chồng phải yêu thương vợ mình như chính thân mình. Ai yêu thương vợ mình, là yêu
thương chính mình [và ngược lại]. Vì không ai ghét thân xác mình bao giờ, nhưng
nuôi dưỡng và nâng niu nó, như Đức Kitô đối với Hội thánh.”
Đễ có một gia đình hạnh phúc thì việc đấu tiên là con người phải
vượt qua những khũng hoãn của căng tính. Hay nói cánh
khác là con người cần phải nhận rỏ mình là ai? Gia đình đỗ vỡ vì mất đi ý nghĩa
“nên một” vì sự bành tướng của chủ nghĩa cá nhân chỉ biết kiếm tìm cái tốt và
những nhu cầu cần thiết cho chính mình mà quên đi người khác. Người chồng là
“đầu” của vợ không thê hiểu theo nghĩa “muốn làm gỉ thì làm” có tích cách cai
trị, nhưng “đầu” ở đây là “trật tự” - nếu gia đình yêu thương thật sư thì phải
có trật tự. Trật tự trong yêu thương, trong nhân phẩm. Chỉ có yêu thương thật
sự, thì gia đình mới có thể trở nên nền tảng của Giáo Hội và Xã Hội.
Lm Phêrô Dương Thanh Liêm
SỐNG LỜI CHÚA - HY LỄ HÔM NAY
Một
cụ già cùng đứa cháu trai ngồi hóng mát dưới bóng một cây cao rồi thỉnh thoảng
ông cụ mỉm cười. “Có điều gì vui mà ông cười thế ?” đứa cháu buột miệng hỏi.
“Ông cười khi nhìn mấy con sóc nhảy từ cành này sang cành khác ,” ông cụ từ tốn
trả lời. “Thử tưởng tượng chúng cứ ngồi lì một chỗ! Làm gì mà còn đời sống!”
Chẳng cần phải là một thiên tài cũng dư hiểu rằng nguyên nhân chính gây ra sự
nhàm chán chung cho cả cộng đoàn là sự thụ động của mỗi một cá nhân. Thực thế!
Thánh Lễ dâng kính hôm nay không phải là sự lập đi lập lại của ngày hôm qua hay
Chúa Nhật trước. Đây chính là “hoa màu ruộng đất và lao công” mà chúng ta “dâng
lên Chúa để trở nên bánh trường sinh và của uống thiêng liêng nuôi dưỡng” không
ai khác ngoài chính chúng ta.
Như Chúa không chỉ chết một lần trên đồi Núi Sọ. Người đã đang và sẽ chết mỗi
từng phút giây cùng với chúng ta. Như Bruce Wilson đã viết là thay vì hỏi “tại
sao Thiên Chúa lại để tạo vật Người chịu khổ đau như thế ” thì phải hỏi “tại sao
Thiên Chúa lại để Người cùng tạo vật Người chịu khổ đau như thế ?”
Như Cha Thánh Damien tại quần đảo Hạ Uy Di. Ngày kia, vừa bắt đầu bài giảng
thuyết “Chúng tôi là những người phong hủi ,” Ngài thấy nhiều vết đỏ đầy khắp tứ
chi. Và Ngài mỉm cười ra điều hiểu biết . Như Chúa khi xưa, Ngài đã san sẻ cùng
với những người Ngài được sai đến để xoa dịu muôn nỗi khổ đau. Và vì thế, mỗi
khi “ăn bánh của Ta ” và “uống rượu Ta đã pha ” này, chúng ta, như Sách Cách
Ngôn dạy, “phải bỏ sự ngây dại đi ” và “bước theo đường lối khôn ngoan .”. Bỏ sự
ngây dại và bước đi theo đường lối khôn ngoan là phải biểu lộ cụ thể đức tin một
cách liên lỉ và sáng tạo.
Liên lỉ, vì thế, không thể là lúc nhặt lúc khoan, lúc nắng lúc mưa, lúc này lúc
nọ. Sáng tạo, cũng vì thế, không thể là máy móc, thờ ơ, lạnh lùng, ngoại cuộc.
Thánh Lễ sẽ không còn nhàm chán khi chúng ta cung kính rước lấy Bánh Trường
Sinh. Khi chính đôi tay ta dâng lên mồ hôi ta, nước mắt ta và lao công ta. Khi
môi miệng ta “hát lên những thánh vịnh và những bài ca đạo đức.” Khi “hết lòng
ca tụng Chúa ,” Chúa sẽ ban sự sống đến muôn đời…
Lm Nguyễn Khoa Toàn
SỐNG LỜI CHÚA - Bánh Trời
Bài
đọc I cho ta biết rằng Elia, sau một ngày dài trong sa mạc, đã mầt hết nhuệ khí,
thân xác rã rời, muốn buông xuôi tất cả. Ông muốn chết để trốn tránh những khó
khăn và nguy hiểm trước mặt. May thay, ông đã được bổ dưỡng bằng bánh của Thiên
Chúa. Bánh này giúp ông lấy lại nghị lực để tiếp tục cuộc hành trình tới Horeb,
núi của Thiên Chúa.
Bài Tin Mừng hôm nay cho chúng ta thấy rằng dân chúng kéo nhau đến với Đức Giêsu
vì họ đã được chứng kiến ‘Phép Lạ Bánh Hóa Nhiều’. Đức Giêsu cho họ biết rằng
chính Người là Bánh Hằng Sống. Họ cần phải ‘ăn’ Người để được sống muôn đời.
Người xác quyết rằng “Tôi là bánh hằng sống từ trời xuống. Ai ăn bánh này, sẽ
được sống muôn đời. Và bánh tôi sẽ ban tặng, chính là thịt tôi đây, để cho thế
gian được sống."
Nếu chúng ta đọc tiếp phần còn lại của Diễn từ trong hội đường Ca-phác-na-um
này, chúng ta thấy rằng dân chúng và các môn đệ cho rằng những Lời của Đức Giêsu
là chướng tai gai mắt, không thể nào chấp nhận được. Một số người định tâm rời
bỏ Người. Trước tình cảnh ấy, Đức Giêsu quay lại và hỏi các tông đồ: "Cả anh em
nữa, anh em cũng muốn bỏ đi hay sao? " Ông Si-môn Phê-rô liền đáp: "Thưa Thầy,
bỏ Thầy thì chúng con biết đến với ai? Thầy mới có những lời đem lại sự sống đời
đời.
Lời tuyên xưng của Phêrô giúp chúng ta nhận thức rằng, đời chúng ta là một cuộc
hành trình trong đức tin với nhiều cam go thử thách. Đích điểm của mỗi người
chúng ta là sự sống đời đời trong Nước Chúa. Cũng như tiên tri Elia, để hoàn tất
con đường Chúa muốn, chúng ta cần của ăn thiêng liêng. Của ăn đó, chính là Mình
và Máu Đức Giêsu trong Bí Tích Thánh Thể.
Phó Tế Đặng Đình Nên
SỐNG LỜI CHÚA - VÌ BÁNH BỞI TRỜI
Một
nữ tu thừa sai từ một quốc gia Tây Phương đuợc sai đi truyền giáo tại Phi Châu.
Một hôm, đang say sưa với bài giáo lý về Bánh Hằng Sống, “Ai ăn bánh này sẽ được
sống đời đời,” hàng trăm cánh tay nhao nháo giơ cao: “Bánh ấy ở đâu vì chúng con
đói quá Sơ ơi!”
Đưa mắt nhìn quanh đám bé đói ăn rồi nhận ngay ra sự hớ hênh vô ý của mình, vị
nữ tu lau nhanh những giọt nước mắt nóng và nhớ đến câu tục ngữ Châu Phi: “Đuợc
chết với cái bụng đầy thức ăn là một điều hạnh phúc!”
Khi thấy đam rất đông dân chúng quá đói ăn ruột ngấu nghiến cồn cào, Chúa “động
lòng thương.” Ngôn sứ là phải chia sẻ sống cùng hoàn cảnh và sống với môi trường
ở từng nơi từng chốn đuơc sai đi! Nhưng chẳng những trao ban luơng thực hằng
ngày, Người muốn dùng những của ăn vật chất kia để, như lời thánh Phaolô, giúp
họ “lột bỏ con người cũ mặc lấy con người mới.”
"Thật, Ta bảo thật các ngươi, các ngươi tìm Ta, không phải vì các ngươi đã thấy
những dấu lạ, nhưng vì các ngươi đã được ăn bánh no nê.” Những người theo chân
Chúa năm xưa đã không hiểu được rằng, phép lạ biến năm chiếc và hai con cá cho
nhiều ngàn người ăn là dấu chỉ của sự liên hệ mật thiết giữa Thiên Chúa và thế
giới Ngườì đã tác thành.
Nhưng cộng đoàn Israel mà Sách Xuất Hành mô tả đã chỉ muốn “ngồi kề bên nồi thịt
và ăn no nê” mà thôi. "Thà chúng tôi chết trong đất Ai-cập,” họ mỉa mai trách
móc Môisen; “Tại sao các ông dẫn chúng tôi lên sa mạc này để cả lũ phải chết đói
như vầy,” họ thở dài ta thán với Aaron!
Đuợc tự do, nhưng lại muốn quay ngược đuờng về sống đời nô lệ! Nghịch lý đến vô
cùng! Và duờng như có chút gì na ná hao hao khi mỗi chúng ta nhìn lại chính đời
sống mình.
Thoát khỏi gông cùm ngục tù nô lệ và hít thở bầu khí tự do, đã khi nào chúng ta
vội than trách Chúa khi gặp một vài thử thách gai chông? Đã khi nào chúng ta
muốn quay lại “lối sống xưa kia” sống cuộc đời nô lệ do chính mình tự tạo bởi từ
“của ăn hay hư nát”: những lý luận bưng bít một chiều; những phê bình chỉ trích
không phản ánh thực tế thiếu nhạy bén chiều sâu; những ngồi lê đôi mách đàm tiếu
soi mói đời sống cá nhân riêng tư…
Khi thấy manna từ trên trời rơi xuống, cộng đoàn con cái Israel đã ngơ ngác hỏi
nhau: “Man-hu -Cái gì vậy?" Nhiều khi chúng ta cũng đã nghi vấn như thế khi
không nhận chân đuợc rằng “bánh bởi trời” mà chính Chúa ban cho chỉ rơi trên mặt
đất vào lúc sương tan…
Lm Nguyễn Khoa Toàn
SỐNG LỜI CHÚA - PHÉP LẠ TỪ CHÍNH CHÚNG TA
Bắt
đầu Chúa Nhật này cho đến cuối Đông, các bài Phúc Âm sẽ đuợc trích từ chương 6
của Thánh Gioan.
Không như các Thánh Sử khác, Gioan không mô tả Chúa “động lòng thương” khi thấy
đám đông đang đói ăn nhưng Người hỏi Philipphê: “Ta mua đâu được bánh cho những
người này ăn?”. Và “Người hỏi như vậy có ý thử ông” -cùng các môn đệ khác- “vì
chính Người đã biết việc Người sắp làm.”
“Ta” ở đây không ám chỉ một mình Chúa Giêsu thôi đâu nhưng là cùng các môn đệ
Người. Chúa không cần chúng ta khi Người làm phép lạ. Nhưng Người muốn nhờ chúng
ta để phép lạ đuợc tạo thành.
Nói một cách khác, phép lạ không hẳn chỉ là những sự kiện nghịch lý, phi tự
nhiên nhưng là khi chúng ta can đảm dấn thân vào những sự kiện tự nhiên với đôi
mắt đức tin như thánh Augustine đã nhắn nhủ: “Chúng ta xem thường phép lạ xảy ra
từ từ khi nuớc thấm ướt cả vườn nho rồi trái nho đuợc ép thành rượu. Chỉ khi nào
trong nháy mắt Chúa biến nuớc thành rượu chúng ta mới kinh ngạc sững sờ!”
Khi Chúa Giêsu bảo đám đông dân chúng“ngồi xuống”, tức thì phép lạ xảy ra. Sẽ
chẳng thể nào có phép lạ khi chúng ta nôn nóng vội vàng! Khi không dám “ngồi
xuống” san sẻ nhau một chút cơm bánh. Và một chút thời gian…
“Hai trăm bạc bánh cũng không đủ để mỗi người được một chút!” “Năm chiếc bánh
lúa mạch và hai con cá thì thấm vào đâu cho từng ấy người!” Có chút gì hằn học
mỉa mai nghi ngờ lo lắng trong những câu nói kia. Nhưng nào có biết đâu, khi mỗi
người cùng góp tay góp sức, phép lạ sẽ đuợc tạo thành.
Điều mà các môn đệ nhìn chỉ là vật chất! Và thời giờ! Ngược lại, điều duy nhất
mà Chúa Giêsu nhìn thấy là con nguời. Và sức mạnh của lòng tin.
Như các môn đệ, lắm khi chúng ta chỉ thấy vấn đề. Nhưng Chúa Giêsu chỉ nhìn vào
cơ hội. Và ơn cứu rỗi trong mỗi từng cơ hội ấy…
Lm Nguyễn Khoa Toàn
SỐNG LỜI CHÚA - KHÔNG CỦA RIÊNG AI
Surah Luqman đã viết rằng nếu đuợc chọn giữa tiên tri và khôn ngoan, ông ta sẽ
không ngần ngại chọn khôn ngoan vì ông không thể chịu đựng đuợc gánh nặng khôn
cùng của sự tiên tri. Nhưng lắm khi gánh nặng khôn cùng kia lại đuợc Thiên Chúa
trao ban cho những người rất đỗi bình thường. Như người chăn chiên Amos chỉ biết
“hái sung” vì “không phải tiên tri cũng không phải con tiên tri và không thể nói
tiên tri.”
Đã hơn 40 năm qua nhưng lời kêu gọi của Công Đồng Vaticanô II vẫn còn văng vẳng
bên tai: Giáo Hội bao gồm mọi thành phần dân Chúa và mỗi tín hữu phải ý thức vai
trò quan yếu của mình để từ đó chân thành và tích cực cộng tác vào công trình
cứu chuộc của Thiên Chúa.
Vấn đề là liệu chúng ta nhìn thấy sự “thánh thiện và tinh tuyền” và xét đoán
nhau như Thiên Chúa nhìn và xét đoán mỗi từng người chúng ta. Nếu Thiên Chúa đã
dẫn người chăn chiên chỉ biết hái sung kia đi nói tiên tri thì tại sao Người lại
không chọn những người “đuợc kêu gọi làm thừa tự” như bạn và tôi?
Sẽ phản bội tinh thần Phúc Âm nếu những người “đuợc ghi dấu Thánh Thần” lại
không dự phần sứ vụ loan báo Tin Mừng Cứu Rỗi! Sẽ ngược lại tinh thần Vaticanô
II nếu chúng ta không dùng sự “khôn ngoan thượng trí ” Thiên Chúa ban cho để
“đuợc biết mầu nhiệm ý định Người ” là công trình cứu chuộc đòi buộc một sự hợp
tác chân thành tuyệt đối của mọi thành phần dân Chúa.
Và có can đảm nhìn thấy sự tốt đẹp thánh thiện trong nhau như Antoine de St
Exupery đã nhìn vào sa mạc và vững tin rằng “đâu đó dưới lớp cát khô cằn nóng
cháy kia vẫn có một giòng nước mát trong tuôn chảy.” Khi sai các môn đệ đi từng
đôi và loan báo Tin Mừng từng cặp, Thiên Chúa đã khẳng định rằng ngôn sứ không
phải là việc của bất cứ riêng ai. Vì thế, hãy đừng sống công thần. Và cũng hãy
đừng buồn mặc cảm. Nhưng hãy sánh vai sánh bước từng cặp từng đôi. Với mọi dân
tộc cho đến tận cùng thế giới…
Sr Miriam Vũ Lành Hải.
SỐNG LỜI CHÚA - “Yêu nên tốt, ghét nên xấu”
Chúng
ta đang sống trong một thế giới phát triển về mọi mặt từ văn hóa đến kinh tế
cũng như các phát minh mới về khoa học. Nhưng còn nhân bản con người thì sao?
Có lẽ đây là câu hỏi mà Giáo Hội quan tâm hàng đầu. Bởi vì nhân bản con người là
nền tảng của Giáo Hội và xã hội, nếu nhân bản tốt thì chúng ta sẽ sinh hoa kết
quả tốt cho giáo hội và xã hội; nếu nhân bản xấu, bị tì ố, thì làm sao chúng ta
có thể sinh hoa kết quả tốt được .
Một trong những hoa quả của nhân bản con người là biết nhận ra cái tốt, cái
‘chân thiện mỹ’ của anh em mình nhất là nơi những người thân thương của mình.
Đôi lúc, vì ảnh hưởng của xã hội, chúng ta đã làm mờ đi nhân phẩm con người
trong cách chúng ta cư sử với nhau. Có lúc chúng ta cảm thấy nhàm chán với những
gì mình đang có và đang thừa hưởng. Nhiều khi chúng ta đang thừa hưởng những kho
tàng vô giá nhưng lại cho rằng đó là những gánh nặng của cuôc đời. Chẳng hạn, ai
cũng biết rằng cha mẹ là một kho tàng vô giá, nhưng cũng có nhiều người không
dám bỏ thời gian rảnh rổi của mình để chăm sóc cha mẹ. Người Việt Nam dù ở nơi
nào phần lớn vẫn còn tính nhân bản của đạo làm con luôn biết chu toàn bổn phận
và trách nhiệm đối với cha mẹ.
Đức Giêsu Kitô là sứ giả của Chúa Cha, Người đem Tin mừng và ơn cứu độ cho nhân
loại. Sứ mạng đó không được kết thúc ở nơi Người mà còn tiếp tục mãi qua trung
gian Giáo Hội. Người đã trao phó cho mỗi người chúng ta tiếp tục sứ mạng của
Người cho đến tận thế. Thi hành sứ mạng rao giảng Tin mừng không phải là chuyện
dễ. Chính Đức Giêsu đã tiết lộ cho chúng ta những khó khăn sẽ gặp phải trên bước
đường truyền giáo: Người đã bị những người đồng hương chối bỏ, không chấp nhận
sứ mạng Cứu thế của Người. Hơn nữa họ còn ghen tị với những phẩm tính đặc sắc
của Người. Điều này đã làm cho Người lên tiếng: ”Không một tiên tri nào mà không
bị khinh dể ở quê hương, gia đình họ hàng mình”(Mc 6,4).
Các dân tộc trên thế giới có những nét văn hóa khác nhau. Tuy nhiên, khi nói
“Bụt nhà không thiêng” thì ai cũng hiểu. Người ta không nhận ra Đức Giêsu là
Thiên Chúa nhưng chỉ biết đến cái bề ngoài của Người mà thôi. Những gì họ nghĩ
về Đức Giêsu thì hòan toàn đúng “Bởi đâu ông ta được như thế ? Sao ông ta khôn
ngoan như vậy ? không phải cha mẹ ông là ông Giuse và bà Maria, anh em họ hàng
là Giacôbê, Giôsê, Giuđa và Simon sao? Họ nhìn Thiên Chúa bằng cái nhìn con
người thôi cho nên họ chỉ thấy và tin những gì trước mắt. Họ nhìn thấy cái tầm
thường của gia đình Chúa Giêsu. Nhưng cái đáng ghi nhận nơi Đức Giêsu đó là sự
thánh thiện và khôn ngoan thì họ không thấy.
Con mắt thành kiến khi nhìn ánh sáng thì cho là bóng tối và ngược lại. Khi đã có
ý nghĩ xấu về một người hay một vật gì thì khó lòng thay đổi được. Thành kiến
làm cho chúng ta hiểu sai con người, sự vật, và hiện tượng. Thành kiến bóp méo
sự thật, thậm chí chối bỏ sự thật. Trong xã hội ngày nay người ta có thể nhìn sự
vật với ba thái độ, đó là yêu, ghét hay dửng dưng. Nhưng thường thì chúng ta ít
khi có thái độ dửng dưng, trung lập, mà thường là nghiêng về một phía yêu hay
ghét. Chính thái độ yêu hay ghét này làm cho ta nhìn sự vật khác nhau: “Yêu nên
tốt, ghét nên xấu”. Khi yêu thì thì coi mọi cái đều đẹp đều tốt, khi ghét thì
thấy mọi cái là xấu: ”Yêu ai yêu cà đường đi, ghét ai ghét cả tông chi họ hàng”.
Ước gì lời Chúa hôm nay giúp chúng phản tỉnh để biết chân qúi những gi mình đang
có, những cử chỉ và lời hay ý đẹp của những người thân của mình. Biết tìm hạnh
phúc với giây phút hiện tại, vì chính chúng ta nhận biết cái cái đẹp của người
thân và qúi mến nó chính là lúc chúng ta đã sống trong Thiên Chúa, và điều đó có
thể là những phép lạ hằng ngày mà Chúa muốn gửi đến cho chúng ta. Amen.
Lm Phêrô Dương Thanh Liêm
SỐNG LỜI CHÚA - ĐỪNG SỢ, HÃY VỮNG TIN
Chúa
Giêsu đã khẳng định với ông Giairô: “Đừng Sợ, Hãy Vững Tin.” Ngài cũng khẳng
định với người phụ nữ mắc bệnh hoại huyết khi Ngài chữa lành cho chị: “Đức Tin
của con đã cứu con.”
Bài Tin mừng Marcô hôm nay tường thuật lại 2 phép lạ của Chúa Giêsu. Những phép
lạ này không chỉ nhằm chứng tỏ quyền năng của Chúa trên bệnh hoạn và sự chết, mà
còn cho chúng ta hiểu được giá trị của niềm tin.
Sự kiện Chúa chữa cho người phụ nữ mắc bệnh loạn huyết. Theo luật Do thái, người
nào mắc chứng bệnh này thì đương nhiên bị liệt vào hàng dơ dáy, ô uế, cho nên
không được vào Đền thờ, không được tham dự các lễ nghi phượng tự, và cũng không
được đụng tới ai vì hễ ai mà bị người ô uế đụng phải thì cũng trở thành người ô
uế luôn. Khỏi cần nói nhiều, chúng ta cũng hiểu chị này đau khổ như thế nào.
Trong cơn đau khổ, chị đã nảy ra một ý tưởng táo bạo là tìm cách đụng vào gấu áo
Chúa Giêsu. Chúa Giêsu chẳng hề quở trách chị một lời nào, trái lại còn làm làm
phép lạ cho chị khỏi bệnh và nâng đỡ đức tin của chị: "Đức Tin của con đã cứu
con. Con hãy đi bình an".
Câu chuyện chữa lành con gái của ông Giairô. Ông là Trưởng Hội Đường, một viên
chức tôn giáo, một người có trách nhiệm bảo vệ luật đạo. Trước đó ông đã đến xin
Chúa Giêsu đến nhà ông chữa trị cho con gái ông sắp chết. Đang lúc đó thì lại
xảy thêm một diễn tiến khác: Người nhà ông chạy đến cho hay là con gái ông đã
chết rồi, đừng làm phiền Chúa Giêsu nữa. Trước những sự kiện dồn dập như thế,
ông Giairô không còn ý định mời Đức Giêsu về nhà mình nữa. Nhưng Chúa Giêsu bảo
ông: "Đừng sợ, hãy vững tin". Giairô đã tin Chúa, không còn ngại sợ gì nữa, ông
đã mời Chúa về nhà, Chúa Giêsu cầm lấy tay đứa bé đã chết và truyền cho nó sống
lại.
Đời chúng ta cũng tràn đầy những hồng ân và phép lạ của Chúa thương ban cho mỗi
ngày. Điều quan trọng là chúng ta xác tín niềm tin của chúng ta vào Chúa, để một
lòng tuyệt đối tin tưởng, cậy trông, và phó thác vào Thiên Chúa là Cha chúng ta.
Lạy Chúa, chúng con tin tưởng, cậy trông, và phó thác trọn vẹn nơi Chúa. Amen.
Lm Paul Chu Văn Chi
SỐNG LỜI CHÚA - ĐỨC TIN LỚN LAO
Có
một bà nổi tiếng đạo đức, nhân hậu và luôn bình tâm trước mọi thử thách. Một bà
khác ở cách xa ít dặm, nghe nói thì tìm đến, hy vọng học được bí quyết để sống
bình tâm và hạnh phúc. Bà hỏi:
-Thưa bà, có phải bà có một đức tin lớn lao?
- Ồ không, tôi không phải là người có đức tin lớn lao, mà chỉ là người có đức
tin bé nhỏ đặt vào một Thiên Chúa lớn lao.
Phép lạ Chúa Giêsu làm cho sóng to, gió lớn phải nghe lời là một bằng chứng rằng
Người điều khiển mọi sự. Sách Gióp khẳng định: Thiên Chúa là Đấng uy quyền,
Người dựng nên trời đất, Chủ Tể muôn loài, muôn vật. Gióp biết một cách chắc
chắn như thế và ông đặt tin tưởng tuyệt đối vào sự quan phòng của Thiên Chúa cho
đời mình. Trong bất cứ hoàn cảnh nào, khi phú quí, giàu sang, ông hết lòng kính
sợ Chúa bằng cách luôn luôn tuân giữ giới răn Người; lúc gặp cảnh hoạn nạn, ông
vẫn một lòng đặt tin tưởng vào Người. Ông cho rằng khổ đau hay thử thách mà ông
gặp phải trên đời không nằm ngoài chương trình của Thiên Chúa.
Các môn đệ đã theo Chúa gần ba năm. Các ông đã chứng kiến những phép lạ do Chúa
làm, nhưng khi gặp khó khăn, các ông đã hành sự như những người không có đức
tin; các ông sợ hãi rồi trách Chúa “Chúng con chết mất mà Thầy không không quan
tâm sao?” Các ông vẫn còn chút hoài nghi về quyền năng của Thầy mình. Nhưng cuối
cùng các ông đã sững sờ thốt lên rằng Người là ai mà cả gíó biển cũng vâng lệnh
Người!
Qua phép lạ Chúa làm cho trời yên biển lặng, Người mời gọi chúng ta hãy tin vào
uy quyền tuyệt đối của Người trong mọi sự, nhất là những lúc gặp khó khăn. Đời
chúng ta ai chẳng có giông tố. Giông tố có thể giúp chúng ta đến với Chúa gần
hơn. Chúng ta cần phó thác cho sự quan phòng của Người. Chính giông tố sẽ giúp
ta lớn lên trong niềm tin.
Chúng ta nên nhớ rằng mặc dầu Chúa Giêsu ở với các môn đệ trên thuyền, nhưng
giông tố vẫn đến. Như thế những giông tố trong cuộc đời chúng ta không có nghĩa
là Chúa bỏ rơi chúng ta. Nếu chúng ta có đức tin chúng ta sẽ thấy Người ở với
chúng ta. Cách tốt nhất là chúng ta đến với Người trong sự phó thác và cầu
nguyện để xin Người cứu giúp. Như thế chúng ta sẽ sống trong sự an bình như bà
nổi tiếng đạo đức, nhân hậu và luôn bình tâm trước mọi thử thách vì bà tin tưởng
vào một Thiên Chúa.
Thầy Đặng Đình Nên
SỐNG LỜI CHÚA - Thánh Thể - Lương Thực Của Cuộc Sống
Mừng
lễ Mình Thánh Chúa chúng ta cảm tạ tình yêu vô bờ của Chúa vì món quà cao trọng
và yêu thương mà Người để lại như là Lương Thực dưỡng nuôi chúng ta trong cuộc
hành trình trên dương thế. Tất cả chúng ta, những nguời đang đi trên cuộc hành
trình đó, luôn đối diện với thử thách và đau khổ qua những việc xảy ra hàng
ngày, cho nên, không gì quí giá hơn là sự hiện diện của Chúa cùng đồng hành để
hổ trợ trong suốt hành trình mà chúng ta đang bước đi. Người là Lương Thực cho
linh hồn và là sự trợ giúp tâm linh mà chúng ta cần để có thể dứt bỏ mọi liên hệ
mà chúng ta đang có trên trần thế. Lương Thực này là phương thuốc chữa lành cho
những lỗi lầm hàng ngày của mỗi người để nhờ đó chúng ta có thể đạt đến sự thánh
thiêng và trở nên giống Người.
Bí Tích Thánh Thể là nguồn của mọi ân sủng và là sự hiệp thông của mọi Kitô hữu.
Bữa tiệc ly không chỉ đơn giản là một biến cố lịch sử, một dấu chỉ của tình bạn
và tình yêu mà Chúa dành cho con người, nhưng là giây phút mà Chúa Giêsu hứa ban
chính Người để tiếp tục hiện diện qua hình Bánh và Rượu. Mỗi khi nhận lấy Mình
Thánh Chúa, chúng ta không chỉ cảm nghiệm sự hiện diện thể lý nhưng còn cảm
nghiệm một sự kết hiệp sâu xa với Chúa hơn nữa, đó là, chúng ta cũng trở thành
Mình và Máu Chúa hiện diện giữa cộng đồng nhân loại.
Hiệp thông với Chúa Kitô trong Bí Tích Thánh Thể có nghĩa là Bí Tích này đem
chúng ta lại gần nhau hơn trong tình anh chị em. Một trong những hoa quả của Bí
Tích này phải là việc gia tăng đức ái giữa các kitô hữu. Mừng lễ Mình Máu Thánh
Chúa chúng ta được mời gọi để biết tha thứ, để biết nhìn lại những yếu đuối của
mình mà thông cảm với những lỗi lầm của người khác, và chúng ta cũng được mời
gọi phải luôn mở cánh cửa tâm hồn mỗi khi đau khổ để cho phép Chúa bước vào.
Chúng ta chưa ai đến điểm cuối của cuộc hành trình, nhưng để có thể hoàn tất
cuộc hành trình này chúng ta phải đồng hành với Chúa và với những người khác.
Lm Nguyễn Văn Tuyết.
SỐNG LỜI CHÚA - LY SỮA NĂM XƯA
Mồ
hôi nhễ nhại nhưng chú bé bán báo vẫn cố gắng lê đôi chân dưới cơn nắng như
thiêu như đốt. Bụng đói cồn cào và sờ vào túi, chỉ còn sót lại duy nhất một
đồng! Mùi từ các quán ăn tỏa ra thơm điếc mũi, nhưng nghĩ đến mẹ và mấy đứa em
thơ, cậu bé lại đành nuốt nước bọt.
“Thôi thì liều vào căn nhà trước mặt xin chút đồ ăn,” cậu nhủ thầm. Nhưng hồn
vía cậu lên mây khi người mở cửa là một bé gái rất xinh trạc gần bằng tuổi. Bối
rối ngập ngừng, cậu bé gãi đầu lắp bắp: “Cho… cho xin ly nước.”
Cô bé nhoẻn miệng cười rồi mang ra một ly sữa lớn. Uống một hớp đã gần cạn ly,
cậu rụt rè hỏi: “Tôi nợ cô bao nhiêu thế?” “Chẳng nợ chẳng nần gì cả,” cô gái
trả lời, “vì Mẹ tôi đã dạy là việc bác ái không đuợc tính bằng tiền!”
Ngày tháng trôi nhanh và Howard Kelly –tên cậu bé bán báo- đã vượt qua mọi
nghịch cảnh để trở thành một bác sĩ chuyên khoa nổi tiếng. Oái ăm thay, cô gái
kia lại mắc một căn bệnh hiểm nghèo. Các bác sĩ địa phương đã bó tay và chuyển
cô lên bệnh viện thành phố để may ra có hy vọng sống còn.
Căn bệnh khá ngặt nghèo nên bác sĩ Kelly đuợc giao phó trông coi. Và khi nghe
tên và nơi cô gái sinh sống, anh nhận ngay ra đây chính là người đã cho ly sữa
tươi mát năm xưa. Vận dụng hết khả năng chuyên nghiệp và với lòng tận tâm vô bờ
bến, bác sĩ Kelly đã giúp cô gái thoát đuợc căn bệnh nan y.
Và khi cầm hóa đơn về bệnh phí, cô đọc đuợc vỏn vẹn mấy chữ sau: “Đã được thanh
toán bằng một ly sữa. Howard Kelly.”
Câu chuyện về thiên thần giả là một em bé múc nuớc biển bằng vỏ sò lấp đầy hố
cát đã thức tỉnh thánh Augustinô đừng nên dùng kiến thức hạn hẹp con người để
tìm hiểu về mầu nhiệm Một Chúa Ba Ngôi. Không thể nào hiểu trọn vẹn mầu nhiệm mà
Thánh Tôma Aquinô đã gọi là “sự khốn cùng của ngôn ngữ.”
Và cuối cùng, thánh Augustinô đã chỉ có thể nói: “Ở đâu có bác ái, ở đấy có
Thiên Chúa Ba Ngôi.”
Lm Nguyễn Khoa Toàn
SỐNG LỜI CHÚA - NGỌN LỬA HỒI SINH
Chắc
hẳn những hình ảnh kinh hoàng của trận cháy rừng tại Victoria đầu tháng hai vừa
qua chưa phai mờ trong tâm trí chúng ta.
Đây có thể đã là thiên tai thảm khốc nhất trong lịch sử Úc Châu: 173 người dân
thiệt mạng cộng thêm với nhiều thành phố, làng xóm bị thiêu rụi cháy tan theo
những mất mát vô kể về tinh thần.
Căn cứ theo bản báo cáo của Tiến Sĩ Kevin Tolhurst, sức nóng của trận bảo lửa
trên tương đuơng với 1,500 quả bom nguyên tử thả xuống Hiroshima. Với công suất
4000 kilowatts trên mỗi mét vuông, nguồn năng lượng khổng lồ kia đủ cung cấp cho
toàn tiểu bang Victoria trong một năm trời.
Lửa tàn phá kinh khiếp qúa! Lụt lội thì hy vọng còn thấy con người cỏ cây muông
thú; nhưng khi thần hỏa xuất hiện thì không còn tạo vật nào còn một chút cơ
may!!!
Nhưng lửa cũng mang lại sức sống cho con người. Tôi vẫn nhớ như in ngày giạt vào
một hoang đảo vắng ở Phi Luật Tân. Chiếc thuyền gỗ mong manh bị đá ngầm nghiến
tan và 23 thuyền nhân kiệt lực gắng chút hơi tàn còn sót lại ngụp lặn vào bờ.
Rồi như người tiền cổ, hai hòn đá được cà sát vào nhau. Và ngọn lửa nhiệm mầu
hiện ra bên những bàn tay sướt máu. “Có lửa rồi”: những âm thanh thật bình
thường đơn giản nhưng chứa đầy sức sống diệu kỳ. Có lửa rồi là còn hy vọng, là
có tương lai, là bình minh ẩn hiện sau những tháng năm dài trong ngục tù tăm
tối…
Trong Cựu Ước, Chúa Thánh Thần đuợc diễn tả bằng lửa: biểu tượng của sức mạnh và
uy quyền. Nhưng trong Tân Ước, Thánh Thần Chúa là Can Đảm và Khôn Ngoan; là Tôn
Kính và Thần Phục; là Kiến Thức, Hiểu Biết và Phán Đoán.
Thánh Justin mà lễ kính vào ngày 1/6 đuợc mệnh danh là triết gia Công Giáo đầu
tiên. Khi còn là một thanh niên, Thánh nhân đã luôn thao thức tìm Sự Thật qua
nhiều học thuyết và tôn giáo.
Với Ngài, trên đuờng đi tìm Sự Thật, chúng ta phải vững tin rằng những khám phá
mới không làm băng hoại và suy suyễn lòng tin chúng ta vào Thiên Chúa. Và nếu
muốn có hạnh phúc đời này và mai sau, chúng ta phải luôn Hiểu Biết và Phán Đoán;
Can Đảm và Khôn Ngoan đi tìm Sự Thật. Và Thần Phục Tôn Kính cho đến khi nhắm mắt
xuôi tay…
Lm Nguyễn Khoa Toàn
SỐNG LỜI CHÚA - NHỮNG NGƯỜI YÊU CHÚA
Cứ
mỗi khi đến Anzac Day, các đài truyền hình thường trình chiếu một vài mẫu tin từ
điạ đầu giới tuyến.
Nội dung thật ngắn gọn nhưng đây là nhịp cầu cần thiết để các chiến sĩ từ những nơi những chốn chưa đuợc bình an nhắn gửi đến gia đình thân nhân bè bạn. Nhưng quan trọng hơn, đây cũng là dịp gia đình thân nhân bè bạn và toàn dân tộc bày tỏ lòng biết ơn yêu thương đến những người đang hy sinh vì đại nghĩa. Những người ở hậu phương làm thế vì họ là những người thụ ơn. Họ làm thế vì họ là những người yêu lính.
Ngay trong câu đầu tiên của sách Tông Đồ Công Vụ, cái tên Thê-ô-phi-lê đuợc nhắc đến. Thê-ô-phi-lê là ai?
Nhiều giả thuyết đã được đặt ra. Có thể là ai đó với điạ vị cao mà Thánh Luca đã long trọng xưng hô: “Thưa Ngài Thê-ô-phi-lô đáng kính”(Luca 1:3).
Giả thuyết khác vững vàng hơn cho rằng Thê-ô-phi-leâ bắt nguồn từ hai chữ Hy lạp theos (Thiên Chúa) và philêô (yêu). Như thế, Thê-ô-phi-lê không phải là tên của riêng ai mà tất cả những người yêu Chúa.
Yêu lính và chúng ta bày tỏ lòng yêu mến biết ơn những người hy sinh vì đại cuộc; những người yêu Chúa phải luôn sống chứng nhân không chỉ ở nơi này và nơi kia mà “cho đến tận cùng trái đất.”
Và không chỉ rao giảng rao giảng Tin Mừng cho dân này nước nọ, nhưng là “mọi tạo vật”. Mọi tạo vật bao gồm cả con nguời, muông thú, cỏ cây…
Như trong di chúc của Vua Trần Nhân Tôn đã ghi đậm nét: “Một tấc đất của tiền nhân để lại cũng không được để lọt vào tay kẻ khác,” di chúc của Chúa Giêsu để lại cho bạn và tôi -“những kẻ Người đã tuyển chọn”- là gìn giữ trái đất này và luôn yêu thương mọi người mọi vật trên mọi miền thế giới…
Phải làm như thế vì chúng ta là những người yêu Chúa!
Lm Nguyễn Khoa Toàn
SỐNG LỜI CHÚA - BÚP BÊ KHÔNG SON PHẤN
Phấn
son có thể không thể thiếu với đại đa số phụ nữ. Nhưng với người Amish –một giáo
phái rất nghiêm ngặt do Jacob Ammann thành lập, điều cần thiết nhất cho phụ nữ
chưa hẳn đã là phấn son!!!
Thực thế, người Amish không diêm dúa cầu kỳ và phụ nữ ít khi làm bạn với phấn son. Và một trong những phong tục đặc biệt của họ là khi có con gái lập gia đình, đích thân ngưởi mẹ tự tay làm cho con một búp bê không mặt.
Trao búp bê không mặt để nhắc nhở cho con là sắc đẹp và hạnh phúc không phải tự bên ngoài nhưng là sự dịu dàng chịu đựng hy sinh thầm lặng bên trong. Có lẽ những phụ nữ Amish đã thấm nhuần được chân lý ngàn đời là đi đến đâu và làm gì, những người mẹ luôn tự thu mình nhỏ lại để chồng và con mình đuợc cao hơn và lớn hơn.
Thực thế, không có hình ảnh nào xác thực hơn về người chủ chiên nhân hậu dám hy sinh mạng sống mình vì đoàn chiên cho bằng hình ảnh mẹ và con.
Và cũng chẳng có thiên chức nào cao qúi hơn thiên chức làm mẹ vì mẹ là người trực tiếp cộng tác với Thiên Chúa trong công trình sáng tạo con người. Ngày Nhớ Ơn Mẹ, hãy cầu nguyện để những người mẹ luôn nhận thức và tái khám phá thiên chức nhiệm mầu này.
Và mỗi chúng ta, hãy luôn biết thảo hiếu với những người mẹ đang còn may mắn sống chung sống với. Vì một ngày mai không xa, khi muốn dâng cho mẹ một chén cơm ngon hay thưa với mẹ một lời thương yêu trìu mến, cơ hội ấy sẽ chẳng bao giờ còn nữa…
Lm Nguyễn Khoa Toàn.
SỐNG LỜI CHÚA - Qua Khung Cửa Kiếng
Một
cặp vợ chồng vừa dọn vào căn nhà mới và sáng sớm hôm sau vào buổi điểm tâm, qua
khung cửa kiếng, nhìn người láng giềng phơi quần áo, cô vợ trẻ buột miệng: “Nhìn
kìa! Quần áo vẫn còn bẩn qúa! Chắc là bà chẳng biết giặt giũ gì và có lẽ bà ấy
dùng bột giặt rẻ tiền!”
Người chồng liếc nhìn nhưng vẫn im lặng.
Và rồi mỗi lần dùng điểm tâm và nhìn người láng giềng phơi quần áo, cô vợ trẻ trực tính vẫn vội vã phê phán phàn nàn.
Ngày kia, người vợ nhìn qua khung cửa kiếng rồi reo lên: “Anh nhìn kìa! Quần áo sạch sẽ qúa! Chắc bà ấy bà ấy đã biết cách giặt rồi.”
Người chồng vẫn điềm nhiên rồi nhẹ nhàng nói: “Không phải đâu em ạ! Sáng sớm nay anh đã lau sạch khung cửa kiếng đấy chứ!”
Đã bước vào tháng Năm. Và Đức Thánh Cha Bênêđíctô đã mời gọi mọi thành phần dân Chúa hãy dùng tháng của Mẹ để “tái khám phá vai trò của Mẹ trong chính đời sống mỗi người để mãi là những môn đệ trung kiên của Chúa Kitô phục sinh.”
“Tái khám phá vai trò của Mẹ” có phải chăng là thay vì vội vã phê phán phàn nàn, mỗi chúng ta tự lau sạch khung cửa kiếng đời mình và nhận thức đuợc rằng như Mẹ là người nữ chăn chiên nhân hậu đầu tiên, mỗi một “môn đệ trung kiên của Chúa Kitô phục sinh” đều đuợc mời gọi trở thành một mục tử nhân lành.
Như “phiến đá mà những người thợ xây loại bỏ, đã biến nên tảng đá góc tường,” người chăn chiên nhân hậu không phải ai khác mà là chính mỗi một chúng ta…
Lm Nguyễn Khoa Toàn
SỐNG LỜI CHÚA - “Nhảy Múa Dưới Cơn Mưa”
Một
ông cụ khoảng trên 80 tuổi bước vào phòng cấp cứu đang khá bận rộn vào một buổi
sáng sớm và xin được chăm sóc vết thương nơi ngón tay cái. Trông ông có vẻ nôn
nóng lắm. Và khi đuợc bảo phải ngồi chờ, ông cụ buồn đi trông thấy.
Khi vết thương đã được băng bó xong, cô y tá ngước mắt nhìn tò mò:
- “Hình như Bác có hẹn với ai thì phải?”
- “Với nhà tôi tại nhà hưu dưỡng,” ông cụ cười đáp.
- “Thế Bác gái có buồn không nếu Bác đến trễ?”
- “Nhà tôi bị bệnh Alzheimer cô ạ! (bịnh mất trí nhớ ở người lớn tuổi). Đã 5 năm nay rồi và ngày nào tôi cũng đến dùng điểm tâm chung tuy nhà tôi không còn biết tôi là ai nữa?”
Cô y tá tròn xoe đôi mắt: “Bác vẫn đến ăn sáng mỗi ngày mặc dầu Bác gái không còn biết Bác là ai nữa?” Ông cụ đứng lên mỉm cười: “Bà ấy không còn biết tôi nữa nhưng tôi vẫn còn biết bà ấy là ai…"
Bóng ông cụ đã khuất xa phòng cấp cứu nhưng cô y tá vẫn còn bồi hồi xúc động: "Ước gì mình có được một người bạn đời như thế!” Rồi vội quay đi lau nhanh giòng nước mắt nóng: “Ừ nhỉ,” người y tá trẻ nhủ thầm, “cuộc sống không phải chỉ biết chịu đựng được những cơn giông bão nhưng còn là biết nhảy múa dưới cơn mưa," như Chúa Giêsu vẫn còn chịu thương khó cho những ai không còn biết nhận ra Người…
Lm Nguyễn Khoa Toàn
SỐNG LỜI CHÚA - VỮNG TIN TUY CHƯA THẤY
Khi
được hỏi sứ vụ gì cấp thiết nhất của Giáo Hội Công giáo hôm nay, Đức Cố Hồng Y
Basil Hume, Tổng Giám Mục Westminster, Anh Quốc, đã không một chút ngần ngại trả
lời: “Bảo Vệ Môi Sinh.”
Vị Chủ chăn khôn ngoan đức độ Dòng Bỉển Đức đã tiên đoán cách đây gần một thập niên điều mà các khoa học gia trên thế giới đã đồng loạt báo động là chẳng còn bao lâu nữa nước và các nguyên liệu thiên nhiên sẽ khan hiếm hơn, các loài động vật và thảo vật sẽ dần bị hủy diệt vì không còn môi trường sống.
Đây không phải chỉ là một dự báo khoa học tự nhiên nhưng cũng là một vấn đề thời sự hàng đầu. Những nhà chính trị đánh hơi được dịp bằng vàng để hốt phiếu đã vội vã đưa ra những chính sách cực kỳ hấp dẫn về môi sinh. Nhưng dầu muốn dầu không và dẫu có cơ hội chủ nghĩa hay không, bảo vệ môi sinh đã trở thành một vấn đề sanh tử.
Rõ ràng là nếu thế hệ này không biết tự chế và bảo tồn thì hậu quả sẽ vô cùng khắc nghiệt cho những thế hệ sau. Và hệ lụy cay đắng kinh khiếp nhất là Tin Mừng sẽ không thể đến với muôn dân vì sẽ chẳng còn có muôn dân để loan báo Tin Mừng.
Nhưng chắc chắn sẽ có những người biện luận ‘không thấy nên không tin’ như Tôma. Hoặc nhún vai lạnh lùng hờ hững thờ ơ “Trời sanh voi, Trời sanh cỏ”! Họ không buồn thấy nên không muốn tin. Hoặc họ không tin vì không buồn thấy.
Chỉ có thể thấy khi đôi mắt mạnh dạn mở to và trái tim biết yêu thương nồng cháy. Và chỉ có thể tin khi đầu óc không cô cứng đơn điệu một chiều…
Tin không phải vì cá nhân ta và cho cá nhân ta, nhưng là những thế hệ mai sau. Cho tương lai đàn con đàn cháu...
Lm Nguyễn Khoa Toàn
SỐNG LỜI CHÚA - Phục Sinh: Niềm Vui và Thách Đố
Chúa
Nhật Phục Sinh là ngày của đức tin, vui mừng và hi vọng. Chúa Giêsu Sống Lại là
nền tảng đức tin và là một biến cố thật kỳ dịu xảy ra trong lịch sử nhân loại.
Đối với một Kitô hữu, không có ngày nào có thể so sánh được với Ngày Phục Sinh.
Đây là ngày của Chúa, là thời điểm mà tất cả hi vọng và hạnh phúc của con người
đã được phát sinh từ những gì xảy ra vào Buổi Sáng Phục Sinh đầu tiên đó.
Bởi quyền lực của Chúa, viên đá đã được dời đi, cửa mộ được mở ra và những gì mà các môn đệ nhìn thấy là một Ngôi Mộ Trống - Biểu hiện cho việc Chúa Giêsu Kitô đã phục sinh vinh hiển. Từ nay mọi sự sẽ hoàn toàn đổi khác - cuộc sống của con người sẽ không còn bị giới hạn bởi chu kỳ của việc sinh ra và chết đi, nhưng là sinh ra, chết đi và sống lại. Đau đớn, thất vọng và đau khổ đã bị đẩy lui và một tương lai mới, đầy hi vọng và hạnh phúc của cuộc sống vĩnh cửu, được mở ra cho chúng ta sau bức màn của sự chết.
Tin mừng hôm nay trình bày hình ảnh vui mừng của các môn đệ vào buổi sáng Phục Sinh cho chúng ta một ý niệm về niềm vui mà họ vừa tìm lại được trong thái độ vội vã loan truyền Tin mừng của họ. Niềm vui này của các tông đồ cũng là niềm vui của mỗi người chúng ta. Toàn thể chiều kích mới do biến cố Phục Sinh mang lại phải hoà nhập vào cuộc sống của mọi người do bởi chúng ta cũng được thừa hưởng lời hứa Cuộc Sống Phục Sinh.
Cuộc Sống Phục Sinh là niềm vui được tái sinh trong Thánh Thần của Chúa và chúng ta không cần phải đợi đến cuộc sống đời sau để hưởng niềm vui này, bởi vì Cuộc Sống Phục Sinh là một thực thể ngay trong cuộc sống hiện tại và được tiếp nối trong cuộc sống đời sau. Qua biến cố Phục Sinh, chúng ta vui mừng để nhận ra rằng, kể từ nay, chúng ta sẽ không còn bước đi một mình trên con đường của cuộc sống, nhưng luôn có Chúa ở bên cạnh trong mỗi bước của cuộc hành trình như là Đấng Cứu Độ, Chúa Cứu Thế và Đấng Chữa Lành của chúng ta. Người luôn ở đó để trợ giúp, nâng đỡ và bổ sức trong mọi việc làm trong cuộc sống hàng ngày của mỗi người.
Lễ Phục Sinh cho chúng ta cơ hội để đối diện với những vấn đề liên quan đến việc sống lại của mình. Nói cách khác, biến cố Phục Sinh trao cho chúng ta một thách đố mới của việc rao truyền ánh sáng và cuộc sống của Đấng Sống Lại. Phục Sinh sẽ không có giá trị tâm linh nào nếu Chúa Kitô đã ra khỏi mồ nhưng chúng ta vẫn còn nằm trong sự chết của chính mình. Phục sinh là sự canh tân cuộc sống trong Chúa Kitô. Nếu cuộc sống của Chúa Phục Sinh thực sự ăn sâu vào tâm hồn và hành động của mình, thì những người đang tìm kiếm ý nghĩa của cuộc sống sẽ khám phá từ chúng ta rằng Chúa Kitô là Đường Về Nhà, là chốn nghỉ ngơi của những tâm hồn bất an và lo lắng.
Lm FX Nguyễn Văn Tuyết
SỐNG LỜI CHÚA - Hãy thể hiện tình yêu Thiên Chúa cho tha nhân.
Toàn
thể Giáo Hội đang bước vào Tuần Thánh. Một lần nữa chúng ta có dịp nghe lại
những giây phút cuối của Đấng yêu thương đã đến trong thế gian, đã chết và đã
sống lại. Đức Giêsu đã chấp nhận đau khổ để con người được hạnh phúc, chấp nhận
chết để con người được sống. Chính tình yêu đối với con người đã thúc đẩy Người
làm điều ấy. Sự việc ấy cho thấy đau khổ của chíng mình có thể biến thành hạnh
phúc cho người khác, cái chết của chính mình có thể biến thành sự sống cho người
khác. Nghĩa là ta có thể chấp nhận đau khổ để người mình yêu được hạnh phúc,
chấp nhận chết để người mình yêu được sống.
Vì thế, đau khổ và chết cho người mình yêu là cách tuyệt hảo nhất để biểu lộ và thể hiện tình yêu: “Không có tình thương nào cao cả hơn tình thương của người đã hy sinh tính mạng vì bạn hữu của mình” (Ga 15,13). Thiết tưởng người Kitô hữu cần sử dụng thường xuyên cách biểu lộ và thể hiện tình yêu tuyệt hảo này trong đời sống (đáng lẽ phải) đầy tràn yêu thương của mình.
Cũng như tình yêu của Chúa Cha đối với Đức Giêsu là gương mẫu cho tình yêu của Người đối với nhân loại: “Chúa Cha đã yêu mến Thầy thế nào, Thầy cũng yêu mến anh em như vậy” (Ga 15,9); thì Người rất mong tình yêu của Người đối với chúng ta cũng là gương mẫu để chúng ta yêu thương nhau: “Anh em hãy yêu thương nhau như Thầy đã yêu thương anh em” (Ga 15,12). Thánh Gioan đã diễn tả ý tưởng trên như sau: “Nếu Thiên Chúa đã yêu thương chúng ta như thế thì chúng ta cũng phải yêu thương nhau” (1Ga 4,11); “Chúng ta hãy yêu thương nhau, vì Thiên Chúa đã yêu thương chúng ta trước” (1Ga 4,19); “Đức Kitô đã thí mạng vì chúng ta. Như vậy, cả chúng ta nữa, chúng ta cũng phải thí mạng vì anh em” (1Ga 3,16). Vậy, chúng ta hãy áp dụng tinh thần yêu thương và hy sinh cho người mình yêu, trước hết và đặc biệt cho những người gần gũi với chúng ta nhất: cha mẹ, vợ con, anh chị em, bạn bè… sau đó cho những người xa hơn, và cuối cùng cho cả những người ghét và làm hại chúng ta. “Anh em hãy mang gánh nặng cho nhau, như vậy là anh em chu toàn Luật Đức Kitô” (Gl 6,2).
Vậy thì, xin nhờ Mầu Nhiệm Vươt Qua của Chúa Giêsu giúp mỗi người chúng ta trở nên hiện thân cho tình yêu Thiên Chúa giữa tha nhân, giữa trần gian. Thiết tưởng đó là những điều thực tế mà trong Tuần Thánh này chúng ta được mời gọi thực hiện trong đời sống mình. Nếu không Tuần Thánh này cũng chỉ là một tuần vô bổ, trôi qua không dấu vết trong đời sống chúng ta.
LM Phêrô Dương Thanh Liêm.
SỐNG LỜI CHÚA - CHẾT ĐI ĐỂ SỐNG LẠI
“Nếu
hạt lúa mì rơi xuống đất không chết đi thì nó chỉ trơ trọi một mình, nhưng nếu
nó chết đi, thì nó sinh nhiều bông hạt.” (Jn.12:24)
Cha Dieudonné Bourgignon, người Bỉ, đã từng bị Ðức Quốc Xã bắt giam trong trại
tập trung Dachau thời Ðệ Nhị Thế Chiến kể lại:
Cha Maximilien Kolbe, người tù trong trại tập trung khi nghe lời ai oán của bạn
tù bị chọn để tử hình đã thốt lên để xin chết thay cho bạn tù: “Tôi xin chết
thay cho người này.” Ðoàn người sững sờ. Tên sĩ quan không ngờ diễn tiến bất ngờ
của biến cố. Hắn tò mò muốn hiểu rõ: "Tại sao muốn chết?" Maximilien Kolbe điềm
tỉnh trả lời: “Tôi là linh mục Công giáo.” Mười tử tội tiến chầm chậm vào cõi
địa ngục. Người ta bỏ rơi họ trong phòng tối không ăn uống cho đến chết. Những
giờ phút tăm tối lê thê. Ngày 18-8-1941, 6 người đã chết, 4 người sống sót còn
lại đang thoi thóp hấp hối. Một người trong đó là Maximilien Kolbe. Tất cả 4
người được nhận mũi thuốc độc ân huệ.
“Nếu hạt lúa mì rơi xuống đất không chết đi thì nó chỉ trơ trọi một mình, nhưng
nếu nó chết đi, thì nó sinh nhiều bông hạt.” (Jn.12:24). Ðể có một quyết định
anh hùng như cha Maximilien Kolbe quả không dễ dàng chút nào. Chúa Giêsu Kitô
cũng đã chết đi để cứu sống chúng ta. Chính vì yêu chúng ta, Chúa Giêsu đã giải
đáp sự chết đi của Ngài để cứu độ chúng ta: “Không có tình yêu nào cao cả hơn
tình yêu của người đã hy sinh mạng sống vì bạn hữu mình.” (Jn.15:12). Tình yêu
cao quý hơn cuộc sống và mãnh liệt hơn sự chết. Chính vì thế, Ngài đã không
xuống khỏi thập giá nên không ai có thể nghi ngờ về tình yêu của Ngài. Chính
Ngài dám chết cho tình yêu nên luật yêu thương của Ngài trở nên một thách đố.
Thách đố con người thoát ra khỏi vỏ ốc ích kỷ của mình, thoát khỏi những bận
tâm, toan tính, vun quén cho mình, để sống cho tha nhân và cho Thiên Chúa.
Cái chết của cha Maximilien Kolbe và tất cả những cái chết hiến thân cho tha
nhân đều nói lên lời yêu thương con người và tôn vinh Thiên Chúa theo gương Chúa
Giêsu Kitô. Tác giả Anthony Padovano viết: "Chúng ta được cứu rỗi không chỉ vì
cái chết thể xác của Ðức Giêsu, nhưng vì tình yêu vô biên của Ngài sẵn sàng chấp
nhận cái chết".
Lạy Chúa, xin cho con đồng hành với Chúa trong Mùa Chay Thánh, nhất là đồng hành
với Chúa qua con đường Thập Tự, và sự chết của Chúa, bằng tình yêu tha nhân, để
cùng chết với Chúa và được sống lại trong vinh quang.
Linh Mục Paul Chu Văn Chi.
SỐNG LỜI CHÚA - ÁNH SÁNG CHÚA VÀ BÓNG TỐI CON NGƯỜI
Nếu
nghịch cảnh khó khăn là thước đo sự thành công của con người thì cuộc đời của
Helen Keller là bằng chứng của một nghị lực phấn đấu phi thường. Thực thế, dẫu
bị mù và câm điếc khi vừa mới 18 tháng, Helen đã sống đến 88 tuổi và đã là tiếng
nói cho những người không nghe biết âm thanh và là tia tin yêu hy vọng cho những
người không cảm nhận ánh sáng không thấy đuợc đêm ngày.
Quên đi chính thân xác mình tật nguyền, Helen đã đi khắp mọi miền thế giới nhắc nhở cho những người đang còn đuợc nghe và đang còn đuợc thấy đừng xem thường hoặc phí phạm những qùa tặng vô giá mà Thượng Đế đã trao ban.
Như chuyện về một người mù kia ngồi ăn xin bên vệ đuờng với tấm bảng: “Xin hãy thương tôi bị mù từ lúc mới sinh!” Tuyệt nhiên, không một ai đoái hoài tâm tới. Một người khách lạ đi ngang nói nhỏ vào tai người mù rồi cầm lấy tấm bảng nguyệch ngoạc mấy hàng chữ. Và tự dưng giỏ xin tiền mỗi lúc mỗi đầy thêm…
Người khách lạ đã viết câu gì thế? “Ban đêm của bạn còn sáng hơn ban ngày của tôi! Hãy đừng phí phạm ánh sáng mà bạn đang thấy!”
Hành động xấu xa là không “hành động trong sự thật”: lao mình vào bóng tối tự tạo và “ghét sự sáng’ Thiên Chúa trao ban. Đôi mắt vẫn mở to giương cao đấy nhưng chung quanh chỉ toàn là vực thẳm tối tăm.
Thực thế, nhìn điều tốt đẹp nhất không hẳn chỉ bằng đôi mắt thế gian trần tục mà bằng chính đời sống đức tin mình.
Lm Nguyễn Khoa Toàn.
SỐNG LỜI CHÚA - ĐỜI CẦU NGUYỆN
“Anh em là đền thờ Chúa Thánh Thần”. Đền thờ Chúa là “nhà Thiên Chúa”. Nhà Chúa là “nhà cầu nguyện”: “Hãy đem những thứ này đi khỏi đây, và đừng làm nhà Cha ta thành nơi buôn bán” (Gioan 2: 16). Vì “nhà ta sẽ được gọi là nhà cầu nguyện” (Mat 21:13). Như vậy, nếu chúng ta là đền thờ Chúa, là nhà của Chúa, mà nhà Chúa là “nhà cầu nguyện”, thì chúng ta cũng phải là “người cầu nguyện”, và cuộc sống của chúng ta là “đời cầu nguyện”.
Ta là người cầu nguyện và cuộc sống ta là đời cầu nguyện. Điều này có thể nào trở thành mẫu mực cho đời sống người Kitô hữu không? Câu trả lời là “có”. Chúng ta phải trở thành người cầu nguyện và đời chúng ta phải là một đời cầu nguyện. Khi Chúa Giêsu nói với Phêrô: “Hãy cầu nguyện luôn khỏi phải sa chước cám dỗ. Tinh thần mau kíp nhưng xác thịt nặng nề” (Mt 26:41), không phải Ngài chỉ nói với Phêrô mà còn nói với mọi người chúng ta nữa. Vì ai cũng biết rằng tinh thần chúng ta luôn luôn sẵn sàng, luôn luôn mau mắn đáp trả lời Chúa, nhưng xác thịt, thân xác chúng ta thì không.
Tuy nhiên, khi Chúa bảo Phêrô và chúng ta “hãy tỉnh thức và cầu nguyện”, thì Ngài không chỉ muốn chúng ta dừng lại ở khía cạnh tiêu cực, là sợ tội, hoặc xin Chúa cứu giúp mình khỏi phải thua cơn cám dỗ. Nhưng Ngài còn muốn Phêrô cũng như chúng ta phải luôn ở gần, ngay bên cạnh để tâm sự, để chia sẻ, và để lắng nghe Chúa nữa: “Linh hồn thầy buồn đến nỗi chết. Hãy ở lại đây và tỉnh thức với thầy” (Mt 26:38) . Và khi nghe Chúa nói những lời ấy, thì hiểu rằng không phải chỉ có chúng ta mới cần được an ủi, mà cả Chúa nữa. Ngài cũng đang cần chúng ta an ủi. Đây chính là niềm hạnh phúc và vinh dự lớn lao cho chúng ta - những thụ tạo yếu hèn của Chúa - lại có thể làm cho Chúa được vui. Có thể an ủi được Ngài.
Tóm lại, là người cầu nguyện hay đời cầu nguyện không chỉ học thuộc và đọc nhiều những kinh do các thánh nhân hoặc những người đạo đức dọn sẵn. Nó cũng không hẳn căn cứ vào những Thánh Lễ hoặc những giờ chầu Thánh Thể chúng ta tham dự. Hoặc những tràng Mân Côi, những buổi đền tạ lâu giờ. Tất cả đều tốt, và đều cần để chúng ta gần gũi, tiếp cận, và thân mật với Chúa. Nhưng cốt lõi của cầu nguyện chính là những tâm sự phát xuất từ cõi lòng, những cái mà Thánh Têrêsa Hài Đồng Giêsu gọi là những lần “hướng tâm”, những rung động của con tim yêu mến được trao đổi giữa ta và Chúa. Một hình thức cầu nguyện không phải chỉ bằng lời, bằng tiếng, hoặc bằng số lượng, mà là những giây phút thật sự lắng đọng, hòa tan giữa ta và Chúa. Ta nghe Chúa, Chúa nghe ta. Chúa an ủi ta, ta ủi an Chúa. Những giây phút Cha con trò truyện và tâm sự với nhau một cách thoải mái, tự nhiên và tình nghĩa.
Nhiều lần chúng ta tự hỏi, đôi bạn trẻ nói với nhau những gì mà kéo dài từ giờ này qua giờ khác. Tại sao họ cảm thấy thích thú, cần thiết, và mong mỏi được nói và được nghe nhau như thế? Chúng ta cũng tự hỏi, hai bố con hoặc hai mẹ con làm gì và nói gì với nhau từ giờ này qua giờ khác. Và rồi cũng với kinh nghiệm của chính mình, chúng ta hiểu những buổi nói truyện như thế không phải lúc nào cũng là những câu truyện mang tính cách trang trọng, nghiêm chỉnh, nhưng phần lớn chỉ là những câu truyện rất bình thường như trời mưa, trời nắng. Cơm, áo, nghề nghiệp. Học hành, tình cảm, nhức đầu, sổ mũi, đau bụng... Tóm lại, đó là những sự việc xẩy ra thường ngày trong cuộc sống. Những truyện mà hầu như ai cũng đã nghe, đã nói, và đã cảm nghiệm trong chính cuộc đời của mình.
Nhưng cái làm cho những câu truyện tầm thường kia trở thành “khác thường” và có tính hấp dẫn, khiến cho những người trong cuộc không còn cảm thấy yếu tố thời gian, và “quên đường về” chính là tình yêu. Và đó là nhịp đập của hai con tim, của hai tâm tình hòa hợp. Chính tình yêu đã làm cho những câu truyện ấy trở nên thu hút và hấp dẫn. Nó làm cho hai tâm hồn cảm nhận và chia sẻ được với nhau, sung sướng được ở bên nhau. Hạnh phúc được nghe nhau nói. Nó khác hẳn những giờ phút nặng nề, chia trí, lo ra, và ngán ngẩm khi chúng ta vì thiếu lòng yêu mến Thiên Chúa mà bắt buộc phải có mặt trong thánh đường vào những ngày Chúa Nhật. Và đó là lý do tại sao các thánh nhân quí trọng và cần thiết những giờ phút cầu nguyện. Đó cũng là lời giải thích tại sao Chân Phước Têrêsa Calcutta mặc dù bận bựu trăm công, ngàn việc, vất vả, mệt nhọc, những vẫn quì hàng giờ trước Thánh Thể. Bởi vì đời của các thánh là đời cầu nguyện, và các ngài là những người cầu nguyện.
Chúng ta sẽ hỏi, thế các thánh nhân nói gì với Chúa trong những giờ cầu nguyện như thế? Câu trả lời là các ngài nói với Chúa như đứa trẻ thơ nói với bố hay mẹ mình. Trong những lúc như vậy, các em cười nhiều hơn nói, vì chính lúc đó, không phải là các em mà là bố hay mẹ các em nói và đem lại cho các em những giây phút hạnh phúc. Các em chẳng cần phải xin gì, chẳng cần phải nói gì mà lại được tất cả. Vì có bao giờ các em nhỏ lại bị thiếu thốn hoặc đói khổ khi ở giữa bố mẹ! Cầu nguyện như vậy không phải chỉ là những lời than van, kêu khóc, hoặc xin xỏ. Cũng không phải là đọc cho to, hát cho lớn, cho lâu, cho nhiều là được, mà là sự kết hợp và tan hòa gi����a ta với Chúa. Chúa ở trong ta và ta ở trong Chúa. Những lúc mà không chỉ chúng ta được bổ sức, được an ủi, được chữa lành, mà chính Chúa cũng được an ủi, được vui mừng vì chúng ta đã tiếp đón, đã hầu cận, và đã lắng nghe Ngài. Những lúc mà tiếng than não nề của Chúa năm xưa trong vườn Cây Dầu: “Linh hồn thầy buồn rầu đến chết” được ta lắng nghe và chia sẻ. Lắng nghe bằng con tim yêu mến rồi chia sẻ bằng hành động bác ái, thông cảm, chấp nhận tha nhân là những Giêsu đang tiều tụy, buồn khổ và não nề trong vườn Câu Dầu của thế giới quanh ta.
“Hãy mang những thứ này đi khỏi đây” (Gioan 2:16). Lời Chúa Giêsu nói với những người đổi tiền, buôn bán chiên, bò, hay bồ câu cũng là lời Chúa nói với mỗi người chúng ta nếu như chúng ta muốn trở thành người cầu nguyện và đời sống chúng ta trở nên đời cầu nguyện. Những thứ chiên, bò, bồ câu, tiền ở đây là tính ích kỷ, lòng tham lam, tính hay giận hờn, cao ngạo, ham mê danh vọng, nhất là dục vọng cuồng nhiệt đang làm như bẩn, nhộn nhịp, và ồn ào căn nhà tâm hồn, và khiến cho tâm trí chúng ta lo ra, xao xuyến. Bao lâu những thứ chiên, bò, bồ câu, và tiền bạc ấy còn đó thì nhà chúng ta, tức linh hồn chúng ta, và trái tim chúng ta không còn chỗ cho Chúa nữa. Lúc đó không còn là nhà cầu nguyện, mà biến thành “hang trộm cướp”. Nơi mà những tranh dành quyền lợi. Nơi mà tính ích kỷ, tham lam, hẹp hòi. Nơi mà những mơ ước quyền lực, và dục vọng làm mất đi vẻ đẹp và giá trị căn bản của cuộc đời và tâm hồn con người.
Mùa Chay, mùa chuẩn bị tâm hồn đón nhận ơn Cứu Độ. Sự chuẩn bị này phải được nhìn dưới khía cạnh tâm linh, có nghĩa là phải sửa soạn linh hồn mình cho trong trắng, cho tinh sạch. Nhất là phải đốt lên ngọn lửa yêu mến để xua tan bóng tối tội lỗi, gạt bỏ mọi trở ngại để chúng ta trở thành đền thờ cho Chúa ngự trị bằng cách đem Chúa về nhà mình. Nói một cách khác, là mời Chúa trở lại căn nhà của Ngài là linh hồn chúng ta để nghe Chúa nói và nói với Chúa. Yên ủi Chúa và xin Chúa an ủi chúng ta. Và như thế chúng ta sẽ là những người cầu nguyện, và đời chúng ta sẽ là đời cầu nguyện.
T.s. Trần Quang Huy Khanh
SỐNG LỜI CHÚA - Hiển Dung – Cơ Hội để Biến Hình
Bài
đọc thứ nhất hôm nay cho chúng ta một cái nhìn lạ thường về đức tin và phẩm hạnh
của Abraham. Lệnh truyền để giết Isaac, đứa con duy nhất của mình, sinh ra khi
ông đang trong tuổi 75, là một điều vượt quá suy nghĩ của con người và có vẻ như
là điều vô lý và lố bịch. Làm sao có thể hiểu được lời hứa của Chúa về việc ông
sẽ trở thành người cha của nhiều dân tộc sẽ được thực hiện, nếu không phải qua
Isaac, đứa con trai duy nhất của ông? Lệnh truyền phải hi sinh đứa con duy nhất
của mình có lẽ là điều khiến cho Abraham đau khổ nhiều nhất, nhưng trong đức tin
và phó thác, ông đã vội vàng thực hiện lệnh truyền đó. Đối với ông bằng mọi giá
Lời Chúa phải được vâng lời. Chính vì sự vâng lời này mà khi lấy dao để sát tế
con mình, Thiên Chúa đã can thiệp. Tay của Abraham dừng lại và sự sống của Isaac
được dung thứ.
Đức tin và sự vâng lời của Abraham là một gương mẫu cho tất cả chúng ta. Ngài
luôn vâng lời Thiên Chúa và đáp trả lời mời gọi của Người, ngay cả khi đức tin
bị thử thách, một cuộc thử thách vượt qua mọi giới hạn mà con người có thể nghĩ
tới. Giống như Abraham, chúng ta cũng được mời gọi để hành trình vào nơi xa lạ
và để đáp trả lời mời gọi của Chúa, đặc biệt, trong những hoàn cảnh dường như vô
lý và hoàn toàn vượt qua khỏi suy nghĩ của con người. Thánh Phaolô đưa ra lý do
cho việc làm này như sau: Chúng ta bước đi bởi đức tin chứ không phải vì nhìn
thấy (2 Cor. 5:7).
Mùa chay cho chúng ta cơ hội thật tốt để đối diện với chính mình, để phản ảnh
lại cuộc sống của mình, để từ đó có thể hi sinh và sự từ bỏ chính mình, từ bỏ
mọi con đường của thế gian để biến hình thành một người rộng lượng và bác ái.
Tin mừng hôm nay thuật lại việc Chúa hiển dung, một biến cố cũng vượt qua khỏi
suy nghĩ của ba môn đệ đang theo Chúa Giêsu lên núi. Phêrô, Giacôbê và Gioan đã
được biến hình ngay lúc họ chứng kiến Chúa Giêsu hiển dung. Kinh nghiệm của biến
cố hiển dung đã giúp họ nhìn lại cuộc sống để biến đổi tâm hồn để cũng được đồng
hình, đồng dạng với Chúa Kitô.
Ngày nay, rất ít người trong chúng ta, giống như Abraham, được Chúa đòi hòi phải
hi sinh đứa con duy nhất của mình, nhưng tất cả chúng ta được đòi hỏi phải biến
hình nghĩa là phải biết từ bỏ lối sống ích kỷ bằng cách kiềm chế lời nói và hành
động có thể gây xúc phạm đến người khác hay có thể khiến cho cuộc sống của chính
gia đình mình mất đi hạnh phúc.
LM - FX Nguyễn Văn Tuyết.
SỐNG LỜI CHÚA - Trở Lại
Người
Eskimo ở bắc cực có một cách bẫy sói rất tài tình và rất hiệu qủa.
Thợ săn chó sói dùng một con dao hai lưỡi thật mỏng và rất bén, bén đến độ chỉ cần chạm nhẹ là cắt đứt tới xương. Họ ngâm con dao ấy vào một chậu máu, rồi đem phơi cho máu đông lại. Họ tiếp tục làm như thế nhiều lần cho đến lúc con dao được cuộn tròn như môt cục máu.
Khi trời nhá nhem tối, họ đem dao ra cắm ngoài cánh đồng tuyết. chó sói bắc cực với khứu giác khá thính, liền đánh hơi mùi máu tươi đông lạnh. Chó chạy vội vàng tới liếm một cách say sưa con dao nhuốm máu. Càng liếm máu trên con dao càng chảy ra nhiều. máu càng chảy ra nhiều sói cảng liếm mạnh hơn. Liếm tới tấp, liếm cuồng nhiệt cho đến khi lưỡi mình đã bị dao cắt đứt mà không hay biết mình đang liếm máu tuơi của chính mình.
Càng say máu, sói càng liếm mạnh bạo hơn, say mê hơn, cuồng nhiệt hơn, cho tới khi mất máu, kiệt sức rồi lăn ra mà chết.
Tin mừng hôm nay cho ta thấy Chúa Giêsu bị cám dỗ và Ngài đã thắng quĩ dữ một cách vẻ vang. Chúa Giêsu cùng đồng dạng với chúng ta. Ngài giống chúng ta mọi thứ và mọi đàng chỉ trừ tôi lỗi. Ngài cũng bị cám dỗ như chúng ta. Ngài không được miễn trừ bất cứ cái gì: tủi nhục Ngài chịu, đau khổ Ngài trải qua,..Ngài đã từng nếm mùi chiến thắng củng như thất bại như con người và ngay cả cái chết. Ngài đã trải qua nhũng cám dỗ gay go. Ngài thấu hiểu những yếu đuối, thử thách và những cảm bẫy chờ sẵn chúng ta. Những cám dỗ triền miên và những mời gọi quyến rũ tội lỗi đưa ta đến chỗ chết mà ta không hề hay biết nhu con sói say mê liếm máu trên con dao tử thân để rồi uống ngay máu mình mà chết một cách thê thảm. Nên Ngài muốn cứu chúng ta khỏi chết bằng cách thức tỉnh chúng ta hãy sám hối mà trở về với Ngài để được sống. Như Ngài sau khi chiến đâú với qủi dữ. Ngài đã chiến thắng một cách huy hoàng và Thiên Thân đến hầu hạ Ngài. Chúng ta cũng sẽ chiến thắng những cám dỗ với sự trung thành vào Tin Mừng Ngài rao giảng và Ngài sẽ sẽ thưởng đời sống trường sinh cho chúng ta.
Thầy Đặng Đình Nên
SỐNG LỜI CHÚA - THƯƠNG XÓT VÀ THA THỨ
Trong
Lời Chúa hôm nay, tôi cảm nghiệm được lòng thương xót và tha thứ của Thiên Chúa
qua Chúa Giêsu Kitô.
Lời Tiên Tri Isaia nhắc nhở về lòng thương xót và tha thứ, Ngài nhấn mạnh rằng
Thiên Chúa cũng không nhớ đến những tội lỗi quá khứ của con người: “Chính vì Ta
mà Ta xoá bỏ sự gian ác của ngươi và sẽ không còn nhớ đến tội lỗi của ngươi”.
Marco tường thuật sự kiện Chúa Giêsu chữa lành bệnh nhân bất toại với lòng
thương xót và tha thứ: “Hỡi con, tội lỗi con đã được tha.” Khi Chúa Giêsu bày tỏ
lòng thương xót và tha thứ, người bất toại cảm thấy bình an và được chữa lành
bệnh.
Trong cuộc sống hằng ngày, chúng ta hãy tin tưởng, phó thác, chấp nhận để Chúa
Giêsu thực hiện nơi chúng ta những gì Người đã làm cho người thanh niên bất
toại. Chúng ta hãy đến với Chúa Giêsu trong Bí tích giải tội, để lắng nghe Người
nói với chúng ta những gì Người đã nói với kẻ bất toại: “Hỡi con, tội lỗi con đã
được tha”. Chúng ta hãy mở rộng tâm hồn và trái tim để lãnh nhận lòng thương xót
và tha thứ của Thiên Chúa.
Lạy Chúa, chúng con phó thác và tin tưởng vào Chúa là Đấng Cứu Độ chúng con.
Lòng thương xót và tha thứ của Chúa đã lôi kéo chúng con vào quê hương vĩnh cửu.
Xin thương xót và tha thứ tội lỗi chúng con, cho chúng con cảm nghiệm được phúc
bình an của lòng thương xót và tha thức của Chúa. Amen.
Lm Paul Chu Văn Chi.
SỐNG LỜI CHÚA - Sự Khiêm Tốn Của Gioan
Một
thầy Rabbi già đau bệnh nằm liệt giường. Các môn đệ thì thầm nói chuyện bên cạnh
ông. Họ hết lời ca tụng các nhân đức vô song của thầy. Một người trong bọn họ
nói: "Từ thời Salomon đến nay, chưa có ai khôn ngoan như thầy". Người khác nói:
"Đức tin của thầy ngang ngửa với đức tin của tổ phụ Abraham". Người thứ ba nói:
"Chắc chắn sự kiên nhẫn của thầy không thua sự kiên nhẫn của ông Gióp". Người
thứ tư châm vào: "Về sự cầu nguyện thân mật với Chúa, chỉ có Môsê và thầy mà
thôi". Vị Rabbi tỏ ra bồn chồn không vui. Khi các môn đệ đã ra về hết, vợ ông
mới hỏi: - Ông có nghe họ ca tụng ông không? – Ông trả lời: Có. - Thế tại sao
ông lại tỏ ra bực dọc như thế? Vị Rabbi than phiền: - Vì không có ai nhắc đến sự
khiêm tốn của tôi?
Gioan Tiền Hô xuất hiện, rao giảng tâm tình ăn năn và phép rửa sám hối. Danh tiếng của ông được mọi ngưởi kính trọng và họ coi ông như một tiên tri. Nhưng ông đã khiêm tốn xác quyết với họ rằng ông chỉ là tiếng kêu trong sa mạc. Thánh Augustin nói rằng Gioan là Tiếng còn Đức Giêsu là Lời. Chính Lời đến để hoàn thiện Tiếng.
Chắc rằng cùng với Gioan, có nhiều người gặp Đức Giêsu. Tuy nhiên, ngoại trừ Gioan, không ai trong đám đông nhận ra căn tính đích thực của Đức Giêsu. Không ai nhận ra rằng chính Đức Giêsu là Chiên Thiên Chúa, Đấng xóa tội trần gian.
Gioan hiểu rằng sứ mệnh của ông đã hoàn thành khi ông giới thiệu môn đệ mình cho Đức Giêsu. Ông đã từ bỏ, kể cả những người thân cận nhất cho sứ vụ của Chiên Thiên Chúa.
Có ít nhất bốn bài học chúng ta rút ra từ con người Gioan. Bài học thứ nhất là bài học ‘khiêm tốn hạ mình’. Bài học thứ hai là bài học ‘kết hợp với Chúa’. Bài học thứ ba là bài học ‘không màng sở hữu’. Bài học thứ tư là bài học ‘loan báo Tin Mừng’.
Xin Thánh Thần Chúa luôn hướng dẫn chúng ta trong hành trình đức tin.
Thầy Đặng Đình Nên
SỐNG LỜI CHÚA - ĐỂ NƯỚC CUỐN TRÔI ĐI
Giả
như có thể quay ngược kim đồng hồ và đứng bên bờ sông Giođăn hai ngàn năm về
trước, chúng ta đã phải kinh ngạc tột cùng đến sượng sùng khi nhìn thấy Chúa
Giêsu cúi gập đầu cho Gioan làm phép rửa.
Mà không kinh ngạc sượng sùng làm sao được khi Đấng Vô Tội lại phải ‘rửa tội’ mình, phải trầm xác thân mình cùng những người thực sự cần nước sông tẩy sạch rồi trôi giạt tan biến đi ra đại dương xa.
Ngày Chúa chịu phép rửa không hẳn chỉ là ngày Người bắt đầu sứ vụ cứu chuộc nhân loại nhưng cũng chính là ngày Người tiên báo cho toàn thế giới về sứ vụ cứu chuộc ấy.
Nói một cách khác, với Gioan và các môn đệ Ngài và cả với chúng ta, rửa tội chỉ là dấu chỉ thống hối quay về. Với Chúa, đó là sự chết. Con người củ phải chết – một dứt khoát đoạn tuyệt với quá khứ xa xưa.
Không còn gì phũ phàng hơn khi bí tích rửa tội không giúp chúng ta ý thức được sứ vụ là con Chúa. Khi nước thánh đổ trên đầu quyện trong tiếng khóc của em bé sơ sinh không nhắc nhở được những giọt nước mắt thương tiếc than van của giây phút cuối đời!!!
Lm Nguyễn Khoa Toàn
SỐNG LỜI CHÚA - Chúng Ta Phải Dâng Gì Cho Chúa?
Hai
lý do mà chúng ta thường nghe để biện hộ cho việc không đi hay đi nhà thờ: tôi
không đi nhà thờ vì tôi không nhận được gì cả, hoặc tôi đến đó là bởi vì tôi
nhận được rất nhiều. Thế nhưng, một điều gì đó thật không ổn cho cả hai lý do
này. Bởi vì chúng ta đến nhà thờ không phải là kỳ vọng để nhận được một điều gì
đó, nhưng là điều gì mà tôi sẽ mang đến đó. Các nhà thông thái không đi một
khoảng xa như vậy để tìm kiếm vị Vua mới sinh với hi vọng rằng sẽ nhận được một
điều gì đó, nhưng là muốn tìm kiếm vị Vua mới hạ sinh để tôn thờ và tặng quà cho
Người.
Trong mọi khía cạnh của cuộc sống, nếu chỉ tìm cách để nhận, chúng ta sẽ không nhận được nhiều. Trái lại nếu tìm cách để cho chúng ta sẽ nhận được nhiều hơn điều mà chúng ta kỳ vọng. Nếu hai bạn trẻ bước vào đời sống hôn nhân là vì muốn nhận được điều gì đó trong bí tích hôn nhân, họ sẽ không nhận được gì nhiều, trái lại nếu bước vào cuộc sống hôn nhân với ý thức rằng họ đến là để trao chính họ cho nhau, họ sẽ nhận được nhiều hơn là điều mà họ có thể mong ước. Điều này cũng đúng trong Hội Thánh. Nếu chỉ tìm cách để nhận, chúng ta sẽ không nhận được nhiều. Nhưng nếu tìm cách để cho đi, Chúa sẽ tuôn đổ cơn mưa ân sủng xuống cho chúng ta.
Các nhà thông thái hoàn tất hành trình của họ tại Bethlehem, và tâm hồn các ngài đã được lấp đầy tình yêu khi về lại quê hương. Cũng vậy, cuộc sống chúng ta là một cuộc hành trình tìm kiếm ý nghĩa, sự viên mãn và tình yêu. Trên cuộc hành trình này chúng ta đi tìm Đấng là Nguyên Nhân cho việc hiện hữu của mình, để khi gặp Người, chúng ta tôn thờ và trao quà cho Người, quà tặng quan trọng nhất là chính cuộc sống, sự bất an và tâm hồn trống rỗng của mỗi người chúng ta, và khiêm nhu cầu xin để Người khoả lấp tâm hồn của mình với tình yêu và bình an của Người. Nếu noi gương các nhà thông thái trong cách thức này, chúng ta cũng sẽ là những nhà thông thái trong việc tìm kiếm Vua của các Vua như họ.
Lm Nguyễn Văn Tuyết.
SỐNG LỜI CHÚA - VẼ CHÂN DUNG GIÊSU TRONG TÂM HỒN
Khi
Đức Maria và Thánh Giuse dâng Chúa Hài Nhi trong đền thánh, có biết bao tư tế và
luật sĩ thông thái, giỏi giang, am tường Kinh Thánh, nhưng họ đã không nhận ra
Chúa. Duy chỉ có ông Simêon, và bà Anna đã nhận ra được chân dung của Người.
Simêon và Anna đã dâng hiến trọn vẹn con người và cuộc đời, đã mài bóng đời mình bằng đạo hạnh và khiêm tốn, đã tôn thờ Chúa trong tin yêu và phó thác. Vì thế, chân dung của Chúa Giêsu được vẽ lên trong trái tim Simêon và Anna.
Lễ Thánh Gia mời gọi chúng ta thánh hoá đời sống các gia đình. Truyền thống gia đình ngày càng sút giảm. Ly thân, ly dị, trẻ em lang thang, thanh niên nổi loạn, phá thai, mại dâm, ma tuý ngày càng gia tăng. Gia đình là nền tảng của xã hội. Nếu không có những gia đình lành mạnh thì không thể có một xã hội tốt đẹp. Cuộc sống của gia đình phải cùng nhau Vẽ Chân Dung của Chúa Hài Nhi trong trái tim mỗi phần tử của gia đình.
Lm Paul Chu Văn Chi.
SỐNG LỜI CHÚA - Xin Vâng
Ngày
xưa có một cô gái bị nhốt trong một túp lều, rất khổ sở. Một hôm có một vị thần
tình cờ đi ngang qua, nghe tiếng than của cô: "Thật là khổ sở và nhục nhã phải
sống trong cái túp lều này. Ước gì mình được sống trong một biệt thự rộng rãi".
Vị thần động lòng, hóa phép cho cô sống trong một biệt thự. Rồi vị thần ra đi.
Cô gái mừng quá quên cám ơn vị thần. Năm sau nữa, vị thần trở lại để xem cô sống
ra sao. Cô than: "Thật là khổ sở và nhục nhã phải sống trong cái biệt thự này.
Ước gì mình được làm một công nương có kẻ hầu người hạ". Vị thần động lòng, hóa
phép biến cô thành một công nương. Rồi vị thần ra đi. Cô gái mừng quá quên cám
ơn vị thần. Năm sau nữa, vị thần trở lại để xem cô sống ra sao. Cô than: "Thật
là khổ sở và nhục nhã vì chỉ là một công nương. Ước gì mình được trở thành hoàng
hậu được thần dân cả nước tôn thờ". Vị thần bảo cô cứ yên tâm đi ngủ, sáng hôm
sau sẽ được như ý. Sáng hôm sau, khi thức dậy, cô gái thấy mình đang sống trong
túp lều.
Bài Tin Mừng hôm nay mời gọi mỗi người chúng ta chiêm ngưỡng khuôn mặt tuyệt vời của Đức Maria, người luôn luôn tỉnh thức, cầu nguyện, và vâng theo thánh ý Chúa trong mọi biến cố của cuộc sống. Đức Maria đã thưa ‘xin vâng’ khi thiên thần Gabriel được Thiên Chúa sai đến truyền tin rằng bà sẽ thụ thai và sinh Đấng Cứu Thế.
Đối với Đức Maria mỗi biến cố là một dấu chỉ nói lên thánh ý của Thiên Chúa. Trong từng giây từng phút của cuộc đời. Đức Maria không ngừng ‘xin vâng’ trước ý định muôn thuở của Thiên Chúa và thực hiện một cách trọn vẹn ý định đó. Hai tiếng ‘xin vâng’ trong biến cố Truyền Tin thể hiện tâm hồn luôn ‘xin vâng’ của Đức Maria. Hai tiếng ‘xin vâng’ này biến đối của sống Đức Maria một cách triệt để hơn. Từ đây, trái tim của Đức Maria luôn hòa nhập với trái tim của con mình là Đức Giêsu Kitô. Đức Maria đã trở nên người cộng tác đắc lực nhất với Ngôi Hai Thiên Chúa trong công trình cứu chuộc.
Qua sự ‘xin vâng’ của Đức Maria, Đức Giêsu Kitô đã hiện diện trong lịch sử nhân loại. Qua sự ‘xin vâng’ của Đức Maria, Thiên Chúa, Đấng Vô Hình, đã trở nên hữu hình và ở giữa chúng ta. Qua sự ‘xin vâng’ của Đức Maria, Mặt Trời Công chính là Đức Giêsu chiếu soi vào bóng đêm tội lỗi của nhân loại chúng ta. Qua sự ‘xin vâng’ của Đức Maria, Thiên Chúa cho chúng ta biết rằng chúng ta tất cả là con cái của cùng một Cha Trên Trời và là anh chị em của nhau trong Gia Đình Thiên Chúa.
Đức Maria trở nên mẫu gương ‘xin vâng’ cho mỗi người chúng ta. Chúng ta hãy tự vấn lương tâm xem mình đã ‘xin vâng’ theo thánh ý Chúa trong mọi biến cố của cuộc sống chưa? Chúng ta thường muốn Chúa ‘vâng’ theo ý chúng ta hơn là chúng ta ‘vâng’ theo thánh ý Chúa. Chúng ta thường xin Chúa ‘tăng’ hoặc ‘cộng’ cho chúng ta cái này cái nọ theo ý thích của chúng ta mà quên đi rằng chúng ta cũng cần xin Chúa cho chúng ta biết ‘giảm’ hoặc ‘trừ’ những thứ lỉnh kỉnh làm cho hành trình của chúng ta đến với Chúa khó khăn hơn. Khi đám đông dân chúng hỏi Gioan Tẩy Giả phải làm gì để trở về với Chúa. Gioan trả lời: "Ai có hai áo, thì chia cho người không có; ai có gì ăn, thì cũng làm như vậy" (Lk 3:11).
Do đó, ‘xin vâng’ theo thánh ý Chúa bao gồm việc làm cụ thể của chúng ta để sửa đối chính mình bằng cách ‘giảm’ những thói hư tật xấu và ‘chia’ những gì chúng ta có cho những người kém may mắn hơn chúng ta.
Đặng Đình Nên.
SỐNG LỜI CHÚA - “ĐỪNG DẬP TẮT THÁNH THẦN ”
Một
trong những vấn nạn mà giáo hội Công Giáo đang điên đầu đối phó là tệ nạn lạm
quyền. Lạm quyền rất dễ dàng dẫn đưa tới lạm dụng; cộng tác viên trở thành thuộc
hạ tay sai. Rồi kết bè kết phái. Rồi phe đảng hội hè…
Thay vì “băng bó những tâm hồn đau thương,” họ đã gây bao đau thương đến nhiều những tâm hồn. Thay vì khiêm cung cởi giây giầy cho Con Thiên Chúa, họ huyên hoang khoác lác đòi buộc Con Thiên Chúa hằn cong tấm lưng cởi giây dày cho họ.
Phải chi họ suy ngẫm về Gioan Tẩy Giả! Gioan đã có thể dễ dàng man khai mình là tiên tri Êlia. Gioan cũng đã có thể lừa bịp cả toàn dân Do Thái tuyên bố mình chính là Đấng KiTô. Nhưng không! Gioan ví mình chỉ như “tiếng kêu trong hoang địa ” đi trước dọn đuờng.
Hơn ai hết, Gioan hiểu rằng con người chỉ là một tạo vật bé hèn và con người phải làm tất cả những gì mình có thể để ánh sáng của Đấng Tạo Thành đuợc muôn đời rạng chiếu. Và nếu muốn tả trọn vẹn trung thực con người Gioan, thiết nghĩ chẳng có gì xác đáng hơn hai chữ ‘khiêm cung’.
Hai ngàn năm trước công nguyên, Gioan đã nhận thức được rằng Đức Kitô chỉ có thể đến khi có người dám khiêm cung mở lối dẫn đường. Khi khiêm cung nhìn nhận con người chúng ta không phải là sự sáng nhưng chỉ có thể làm chứng thôi về sự sáng Con Người.
Con Người đã nhập thể vì Mẹ, như thánh Gioan, nhìn nhận mình là “tôi tớ Chúa”. Mẹ đã sống rất mực khiêm cung và Thiên Chúa đã khiêm cung ngự trong cung lòng Mẹ. Hãy tâp sống khiêm cung, mãi mãi khiêm cung, để Hài Nhi Giêsu có thể nhập thể trong mỗi một tâm hồn. Hãy luôn sống như thế và đừng bao giờ dập tắt lửa khiêm cung bừng cháy từ dầu Thần Linh Chúa.
Lm Nguyễn Khoa Toàn
SỐNG LỜI CHÚA - Mùa Vọng: Đường nên Thánh
Quý
ông bà anh chị em kính mến,
Sách Luận Ngữ của Khổng Phu Tử nêu lên bốn cái ưu tư của ông "thời bình sinh":
1/ Đức chi bất tu - đức hạnh không lo tu dưỡng; 2/ Học chi bất giảng - có học
vấn mà không lo truyền thụ cho người khác; 3/ Văn nghĩa bất năng đồ - nhìn thấy
việc nghĩa mà không lo làm; 4/ Bất thiện bất năng cải - thấy sai lầm mà không
chịu sửa đổi cải hóa, thì ngô ưu dã - những điều ấy là nỗi lo của ta vậy.”
Khổng Phu Tử sinh vào sinh năm 551 và qua đời năm 479 trước Công Nguyên. Những
lời giáo huấn của ông đã thấm nhuần nền văn hóa Trung Quốc, Việt Nam, Hán Quốc
và một số nước ở Đông Nam Á. Ông luôn kiêu gọi mọi người biết tu dưỡng đức hạnh,
biết truyền thụ những văn hóa tốt đẹp cho người khác, biết trọng chữ nghĩa và
đem ra thực hành, biết sửa đổi và cải hóa những sai lầm trong đời sống thường
nhật. Ông đã nêu lên những căng bản, những con đường tiêu biểu về phương cách
làm người.
Các bài đọc tuần lễ thứ hai của Mùa Vọng năm năm nay, một lần nữa nhắc nhở mọi
người chúng ta về về bản tính của mình. Chúng ta không chỉ là những con người
mang hình ảnh Thiên Chúa, chúng ta còn là anh em với nhau trong Gia Đình Thiên
Chúa. Vì yếu đuối cho nên đôi lúc chúng ta làm méo mó hình ảnh tuyệt đẹp ấy bởi
lối sống bất xứng của mình. Vì yếu đuối cho nên đôi lúc chúng ta thù hằn hiềm
khích với anh em xung quanh. Vì thế Giáo Hội luôn luôn mời gọi mỗi người biết
hoán cải và trở về với Chúa. Mẹ Giáo Hội luôn rộng mở vòng tay đón tiếp chúng
ta. Một thần học gia nọ đã nói rằng Giáo Hội là bệnh viện chữa trị những bệnh
nhân tội lỗi, chứ không phải là đấu trường nơi các lực sĩ thi thố tài năng.
Mùa Vọng là dịp Giáo Hội giúp mọi người chúng ta nên thánh. Mùa Vọng mời gọi
chúng ta tỉnh thức và sẳn sàng bằng chính đời sống đức tin và biết nhìn nhận
những sai lầm mà trở về với Thiên Chúa. Trong bài đọc I, tiên tri Isaia nói đến
tình trạng Dân Chúa thời đó đã phản nghịch với Thiên Chúa, đắm chìm trong tội
lỗi. Isaia loan báo sự tha thứ của Thiên Chúa. Tiên tri nói: “Chúa là Đấng nhân
hậu và hay thương xót. Ngài sẽ đến để cứu độ dân Ngài. Nhưng mỗi người phải sửa
lại con đường của mình cho ngay thẳng, cho bằng phẳng, và mỗi người sẽ nhìn thấy
ơn Cứu độ cửa Thiên Chúa!”
Thánh Phaolô đã nhắc lại tư tưởng của Chúa Giêsu trong Chúa Nhật tuần trước:
Thiên Chúa nhẫn nại chờ đợi chúng ta sám hối để được ơn tha thứ; vì Chúa không
muốn cho ai phải ‘hư mất’, nhưng tất cả mọi người được hưởng ơn cứu độ do Người
mang đến.
Chúa đến với nhân loại qua nhiều hình thức khác nhau. Tuy nhiên, chúng ta có thể
tóm lại trong 4 hình thức sau đây: (1) Qua biến cố Nhập Thể, Chúa đã đến với
nhân loại; (2) Chúa đang đến với chúng ta từng giây từng phút, đặc biệt trong Bí
Tích Thánh Thể mà chúng ta đang cử hành nới đây; (3) Chúa đến với chúng ta trong
giờ chết, ‘tận thế cá nhân của mỗi người’; (4) Chúa đến với chúng ta trong thời
cánh chung, khi mà muôn loài sẽ được đổi mới hoàn toàn và được hòa nhập và môi
trường Thiên Chúa (Rev 21:1-2). Cùng nhau chúng ta cầu xin: Lạy Chúa xin hãy đến
cứu giúp chúng con.
Mến chúc quý ông bà anh chị em một Mùa Vọng đầy thánh ân. Amen.
LM Phêrô Dương Thanh Liêm.
SỐNG LỜI CHÚA - Đổi đời
Nếu
có ai hỏi tôi khẩu hiệu của hướng đạo là gì?
Tôi xin thưa: Sắp sẵn. Mục đích của hướng đạo là lúc nào cũng phải sẵn sàng để đương đầu với mọi hoàn cảnh.
Powell là cha đẻ của ngành hướng đạo, là một đại tá lừng danh chỉ huy những cuộc chiến đấu oanh liệt tại Âu Châu. Người ta kể rằng trong nhiều trận chiến không cân sức, ông đã khôn khéo để hướng dẫn đoàn quân của mình tới chiến thắng. Chẳng hạn, trong một trận chiến mà ông và một ngàn quân phải luôn sẵn sàng để đương đầu với số quân địch đông gấp chín lần trong một thời gian dài 217 ngày đêm, ông đã khôn khéo dùng chiến thuật nghi binh. Khi viện binh tới, ông mới tấn công đối phương và đã dành được thắng lợi.
Chính phủ nước Anh muốn thăng cấp tướng cho ông thì ông lại rút lui, và lập nên phong trào hướng đạo để huấn luyện các em thiếu nhi trở thành những người trong mọi hoàn cảnh biêt luôn trong tư thế săn sàng dể giúp ích cho bản thân, gia đình và xã hội.
Phúc âm hôm nay Đức Giêsu hối thúc giục các môn đệ của Ngài ba lần hãy ‘tỉnh thức’ ‘tỉnh thức’ và ‘tỉnh thức’. Người biết rằng tỉnh thức là điều kiện cho phép các môn đệ có một đời sống mới. Người biết tỉnh thức không phải là một chuyện dễ nên Người đã lặp đi lặp lại nhiều lần để các môn đệ ghi lòng tạc dạ. Tỉnh thức đòi hỏi thời gian dài khổ công rèn luyện để chúng ta phát triển hài hòa giữa cái đầu, con tim và đôi tay trong cuộc sống. Chúa Giêsu dạy: "Nếu anh em không ăn ở công chính hơn các kinh sư và người Pharisêu, thì sẽ chẳng được vào Nước Trời" (Mt 5,20).
Lời kêu gọi ‘tỉnh thức’ cũng rất là thich hợp với chúng ta để bước vào Mùa Vọng. Chúng ta đang đợi Chúa đến trong ngày cánh chung và chúng ta cũng chờ đợi Người đến trong giờ chết của mọi người chúng ta. Chúng ta sống trong tư thế tỉnh thức của hai cuộc chờ đợi này.
Tình, tiền, tài… làm cho chúng ta khó tỉnh thức. Chúng ta cần sống can đảm, theo tiếng gọi thâm sâu của tâm hồn mình, chấp nhận thương đau, dằn vặn để rồi chúng ta được lớn lên nhờ tuân giữ giới răn Chúa. Chúng ta tỉnh thức và sẵn sàng bằng cách đoạn tuyệt với tội lỗi; sửa đổi lại những tính hư tật xấu trong tâm hồn; chu toàn bổn phận và tích cực thực hiện những hành động bác ái yêu thương. Tỉnh thức để có thể nhìn thấy ý Chúa trong những dấu chỉ của thời đại. Nghe tiếng Chúa trong cuộc sống và trong những việc bình thường hằng ngày; Thấy Chúa trong những con người bình thường. Tỉnh giúp chúng ta nhận ra dung mạo đích thực sự của Ðức Kitô nơi những người đau khổ, nghèo hèn, và khiêm nhường.
Để đón lễ Giáng Sinh, Hội Thánh dành bốn tuần lễ chuẩn bị gọi là Mùa Vọng. Y học cho chúng ta biết rằng sau bốn tuần lễ tính từ lúc thụ thai trong lòng mẹ, thì trái tim thai nhi bắt đầu đập. Bốn tuần Mùa Vọng chính là thời gian mà mỗi ngưòi chúng ta cần làm để trái tim chúng ta có chung nhịp đập với Trái Tim Yêu của Thiên Chúa trong hành trình chúng ta về với Người.
Thầy Đặng Đình Nên
SỐNG LỜI CHÚA - ĐỨC KITÔ, VUA TÌNH YÊU
Đức
Kitô là Con Thiên Chúa, Ngài không phải chỉ là vua vũ trụ, mà còn là vua của
thời gian, vua vĩnh cửu, và đặc biệt Ngài là Vua của Tình Yêu.
Hoàng đế Alexandre đã khóc khi nhìn lên bầu trời đầy trăng sao. Ông tức giận và buồn phiền, chỉ vỉ đã không cai trị được khoảng không trung bao la ấy. Ông chiếm cứ các lãnh thổ và mở rộng bờ cõi tới tận Ấn Độ. Người ta tôn kính ông như một vị thần. Nhà hiền triết Kallisthène đã bị chém đầu chỉ vì không chấp nhận điều đó. Nhưng Alexandre không phải là một vị vua vĩnh cửu bởi vì ông đã chết và chỉ sống được có ba mươi ba năm, và ông cũng không phải là Vua của Tình yêu.
Hoàng đế Napoléon với những chiến thắng lẫy lừng rung chuyển Âu Châu cũng không thoát khỏi số phận của thần chết.
Chúng ta đều là con cái của thời gian trong thân phận giới hạn của con người. Chỉ mình Đức Kitô làm vua cai trị ngàn đời trong Tình Yêu Ngài dành cho con người. Chỉ mình Ngài mới là vua vĩnh cửu. Ngài là Alpha và Oméga. Là khởi đầu và kết thúc. Ngài đã có trước thời gian và sẽ còn tồn tại không bao giờ ngừng. Ngài cai trị trên mọi biển khơi và vương quốc của Ngài trải dài đến vô cùng trong Tình Yêu.
Chateaubriand, một thi sĩ nổi tiếng người Pháp, đã kêu lên: “Ôi lạy Chúa, trên trần gian các dân tộc xâu xé, các vua chúa sụp đổ, chỉ có mình Ngài mới trường tồn bất biến. Không một thế lực nào có thể lật đổ ngai tòa của Ngài.”
Mừng Lễ Chúa Giêsu Kitô là Vua Tình Yêu, chúng ta chúc tụng Vua Giêsu Tình Yêu bằng một đời sống đạo đức và thánh thiện, bác ái và yêu thương, nhất là sống đời tạ ơn để đền đáp lại tình yêu của Ngài. Chúng ta chúc tụng Vua Giêsu Tình Yêu bằng cách rao giảng Phúc âm, làm việc tông đồ, và đặc biệt sống chứng nhân đức tin và tình yêu, theo với sứ điệp của Ngài: “Ai xưng tụng Ta trước mặt người đời, thì Ta cũng sẽ xưng tụng nó trước mặt Cha Ta ở trên trời.”
Do đó, là con dân của Vua Giêsu Tình Yêu, chúng ta quyết tâm tuân giữ những điều Ngài truyền dạy và nhất là thực hiện những hành động bác ái yêu thương, để chúng ta xứng đáng là công dân của Vua Tình Yêu, công dân của Nước Trời, và sẽ được Ngài đón nhận vào vương quốc vĩnh cửu của Ngài.
Linh Mục Paul Văn Chi.
SỐNG LỜI CHÚA - 1. "Sao không đổi sang một cách nhìn lạc quan và tích cực hơn?"
1. "Sao không đổi sang một cách nhìn lạc quan và tích cực hơn?"
Khi lãnh nén bạc của ông chủ, người đầy tớ thứ ba đã nghĩ gì? Hắn nghĩ chủ hắn "là người keo kiệt, gặt chỗ không gieo, thu nơi không phát". Hắn cảm thấy thế nào? Hắn "khiếp sợ". Và hắn làm gì? Hắn "đi chôn giấu nén bạc dưới đất". Suy nghĩ bi quan tiêu cực dẫn tới tình cảm bi quan tiêu cực, và làm phát sinh hành động bi quan tiêu cực.
Còn hai người đầy tớ đầu nghĩ gì? Họ nghĩ tới tấm lòng của ông chủ đã yêu thương trao tài sản cho họ; nghĩ tới sự tín nhiệm của ông chủ đối với họ nên giao tiền xong là ông ra đi. Nghĩ như thế rồi họ cảm thấy gì? Thấy thương mến chủ. Và họ đã làm gì? Họ tích cực làm cho những nén bạc của chủ sinh lời thêm. Suy nghĩ lạc quan tích cực dẫn tới tình cảm lạc quan tích cực, và làm phát sinh hành động lạc quan tích cực.
Có nhiều người trong chúng ta cũng nuôi những ý nghĩ bi quan và tiêu cực như thế. Họ được Chúa ban cho một số khả năng. Nhưng họ không vừa lòng, họ nhìn sang những người khác và trách Chúa sao ban cho người khác nhiều khả năng hơn họ. Suy nghĩ đó dẫn họ tới tình cảm ganh ghét so bì. Tình cảm ganh ghét so bì ấy khiến họ không lo phát tri��n những khả năng.
Khi nhìn thấy tình trạng không tốt trong gia đình, xã hội và Giáo Hội, những người ấy thường trách móc: tại những người lãnh đạo không tốt, tại người này người nọ. Suy nghĩ đó đưa đến tình cảm bực bội bất mãn. Tình cảm bực bội bất mãn làm phát sinh thái độ chống đối, bất hợp tác.
Sao ta cứ bi quan tiêu cực như người đầy tớ thứ ba, mà không đổi sang cách nhìn vấn đề một cách lạc quan và tích cực hơn? Không cần so sánh số nén bạc của ta nhiều hơn hay ít hơn những người khác, điều quan trọng là Chúa đã thương và tín nhiệm ban cho ta những nén bạc ấy, cho nên cố gắng phát huy tối đa chúng; thấy một tình trạng tồi tệ, ta không cần đổ lỗi cho ai cả, nhưng hãy nghĩ xem Chúa muốn ta làm gì với khả năng của ta.
2. Hãy nhớ hai quy luật này
Sinh sản thêm, đó là quy luật của sự sống: cây cỏ, thú vật và con người đều phải tăng trưởng thêm thì mới sống còn. Quy luật này do chính Ðấng tạo hóa đặt ra: sau khi tạo dựng, Thiên Chúa phán "Ðất hãy xanh um thảo vật xanh tươi, rau cỏ hãy nảy hạt giống và cây có quả hãy sinh quả theo loại" (St 1,11); Thiên Chúa cũng phán với con người "Hãy sinh sôi nảy nở" (St 1,28). Bởi đó, không tăng trưởng nữa là dấu hiệu bắt đầu chết dần.
Người đầu tư có quyền hưởng hoa lợi, đó là quy luật của công bằng: "Có ai trồng nho mà lại không được ăn trái? Hay có ai chăn súc vật mà không được uống sữa của súc vật?" (1 Cr 9,7)
Hai quy luật trên nhắc ta phải làm cho những khả năng Chúa trao sinh kết quả tốt:
Không sinh kết quả là lỗi công bình với Chúa.
Không sinh kết quả gây hại cho chính bản thân chúng ta.
3. Nén bạc Tin Mừng
Trong số những nén bạc mà Chúa giao cho chúng ta, Tin Mừng là nén bạc quý báu nhất.
Hai người đầy tớ đầu là các thừa sai. Các ngài đã đem Tin Mừng đi gieo vãi khắp nơi. Hạt giống / nén bạc ấy đã sinh thêm gấp 30, 60, 100.
Người đầy tớ thứ ba cũng lãnh nhận Tin Mừng như hai người kia, nhưng đào lỗ chôn xuống đất. Ðó là người không dùng sức mạnh Tin Mừng để nuôi lớn cuộc sống tinh thần của mình, không nói lại Tin Mừng cho người khác, không sống tỏa ánh sáng Tin Mừng trước mặt thiên hạ.
Bạn là người đầy tớ nào?
4. Chuyện minh họa
Ngày xưa có một ông nhà giàu nhưng rất keo kiệt. Ông gom tất cả số vàng của ông lại nấu thành một khối và đem chôn ở mảnh vườn sau nhà. Rồi ngày ngày ông bắt ghế nhìn chăm chăm chỗ đó một cách thích thú.
Bởi vì ngày nào ông cũng làm như thế, nên một trong những đứa đầy tớ biết được bí mật. Ban đêm, nó đào lấy khối vàng đi mất. Ông nhà giàu buồn quá, chẳng thiết ăn ngủ gì nữa cả.
Một người bạn biết chuyện, khuyên ông hãy lấy một viên gạch để vào đúng chỗ ấy, rồi ngày ngày cũng ra nhìn vào chỗ ấy.
Ông nhà giàu cãi:
- Nhưng đó đâu phải là khối vàng, chỉ là một viên gạch thôi mà.
- Thì có khác gì đâu.
- Vậy chúng giống nhau chỗ nào?
- Ở chỗ cả hai không khi nào ông xài tới.
Lm. Carolô Hồ Bạc Xái
SỐNG LỜI CHÚA - XÂY DỰNG ĐỀN THỜ TÂM HỒN
Sau
khi Chúa Giêsu về trời, các tông đồ và các Kitô hữu đầu tiên hăng say lên đường
truyền bá Tin Mừng, Hội Thánh bắt đầu hiện diện giữa lòng thế giới. Nhưng đế
quốc Rôma bắt đầu nghi kỵ và ác cảm với gần 300 năm bách hại các Đền Thờ Tâm Hồn
Đức Tin Công Giáo, nhưng Hội Thánh vẫn trường tồn.
Năm 313, hoàng đế Constantinô ký sắc lệnh Milan công nhận Kitô giáo là một tôn giáo hợp pháp trên đế quốc Lamã. Ông trao tặng Ðức Thánh Cha Miltiad một cung điện lộng lẫy nằm trên đồi Coelius, đó là cung điện Latêranô ngày nay. Ðức Thánh Cha đã cho xây bên cạnh cung điện này một Ðại Thánh đường, đó là Đền Thờ Latêranô. Ngày 9. 1. 324, Ðức Thánh Cha Sylvester đã long trọng cung hiến Đền Thờ Latêranô này. Trong thời gian đầu, Đền Thờ Latêranô được dâng kính Ðấng Cứu Thế, với tước hiệu Vương Cung Thánh Đường Chúa Cứu Thế. Thế kỷ XII, Đền Thờ Latêranô được dâng kính thánh Gioan Baotixita và thánh Gioan tông đồ. Đền Thờ Latêranô được xem là "Mẹ và là Ðầu của mọi nhà thờ trên thế giới".
Đền Thờ Latêranô được coi là cổ xưa nhất, nơi đây còn có giếng rửa tội lâu đời nhất của Rôma. Tại giếng rửa tội này, hàng ngàn tân tòng đã đến đây lãnh phép rửa tội, nhất là trong các đêm vọng Phục Sinh. Cung điện Latêranô còn là nơi hội họp của 250 Công Ðồng, trong đó có bốn Công Ðồng chung. Các Ðức Giáo hoàng đã cư ngụ tại đây trong hơn 1,000 năm, mãi cho đến thế kỷ XIV, Ðức Nicôlas V mới dời Giáo Ðô về Vatican, cạnh đền thờ thánh Phêrô. Qua các trận hỏa hoạn, động đất và càn quét của man dân, của Ðức, của Pháp... Ðền thờ Latêranô phải tái thiết lại nhiều lần. Ngày 28. 4. 1726, sau một công trình tái thiết lớn, Ðức Thánh Cha Bênêditô XIII đã thánh hiến lại và công nhận ngày 9. 11 hàng năm làm ngày lễ tưởng niệm cung hiến Đền Thờ Latêranô.
Mừng lễ cung hiến Ðền Thờ Latêranô, chúng ta cùng nhau xây dựng Ngôi Ðền Thờ Thiên Chúa trong mỗi tâm hồn chúng ta. Công việc xây dựng Đền Thờ Tâm Hồn đòi hỏi phải cố gắng xử dụng mọi khả năng, sức lực, khôn ngoan, và cả cuộc đời, để xây dựng Đền Thờ Thiên Chúa trong mỗi tâm hồn chúng ta.
Lạy Chúa, Chúa muốn chúng con trở thành Đền Thờ sống động để Chúa ngự trị. Xin cho mỗi người chúng con quyết tâm xây dựng Đền Thờ xứng đáng cho Chúa ngự trị suốt cả cuộc đời chúng con. Amen.
Linh Mục Paul Văn Chi.
SỐNG LỜI CHÚA - LỄ CÁC ĐẲNG, ngày 02/11
Ngay từ buổi đầu của Kitô giáo, Hội Thánh lữ hành đã hết lòng kính nhớ, dâng lời cầu cho những người đã qua đời, vì cầu nguyện để họ được giải thoát khỏi tội lỗi là một ý nghĩ lành mạnh ( 2 Mcb 12-45 ). Thánh lễ cầu nguyện cho các linh hồn và đặc biệt suốt cả tháng 11 là một việc làm tốt lành, thánh thiện. Hội Thánh mỗi năm luôn dành riêng tháng 11 để mọi Kitô hữu dâng lễ, làm việc bố thí, bác ái, các việc lành, để cầu nguyện cho các tín hữu đã qua đời.
NGƯỜI SỐNG VÀ NGƯỜI CHẾT KHÔNG HỀ BỊ GIÁN ĐỌAN:
Sách Giáo lý Công Giáo từ số 0946 đến 0962 viết: ” Hết thảy mọi người chúng ta, từng cấp bậc và cách thức khác nhau, đều hiệp thông trong cùng một đức mến Chúa yêu người, cùng hát lên một bài ca chúc tụng vinh quang Thiên Chúa chúng ta “. “ Vì tất cả những ai thuộc về Chúa Kitô và nhận lãnh Thánh Thần của Ngài, đều họp thành một Hội Thánh duy nhất và liên kết với nhau trong Ngài ( Ep 4, 16 ). Bởi vậy sự hiệp nhất giữa những người còn sống trên dương thế với các anh em đã an nghỉ trong bình an của Chúa Kitô không hề bị gián đoạn “ ( GH 49 ). Mọi Kitô hữu đều tin rằng qua cuộc lữ hành trần gian, họ sẽ có một nơi nhà ở vĩnh viễn, Chúa đã dọn trước cho họ.Trong Kinh Tiền tụng I cầu cho kẻ qua đời có viết:” Vì, lạy, Chúa, đối với các tín hữu Chúa, sự sống thay đổi chứ không mất đi, và khi nơi nương náu ở trần gian này bị hủy diệt tiêu tan, thì lại được một chỗ cư ngụ vĩnh viễn trên trời “. Do vậy, có sinh, ắt có tử. Đó là định luật tất yếu của con người. Nhưng, người tín hữu hữu rõ rằng sự chết và sự sống như một ngăn cách không thể nào vượt qua ranh giới; tuy nhiên, đối với Kitô hữu, sự sống và sự chết như có một cái gì rất liên kết, rất gắn bó, đến nỗi trong lòng tin người sống và kẻ chết như đang ở gần kề. Và đó là điều, người tín hữu luôn xác tín mạnh mẽ và hết sứ yên tâm, bởi vì người sống và kẻ chết luôn liên kết với chúa. Mọi Kitô hữu sẽ ý thức và tin tưởng sâu xa vào lời Chúa: ” Ta là sự sống lại và là sự sống. Ai tin Ta, sẽ được sống đời đời, và không bị xét xử, nhưng sẽ được từ cõi chết mà qua cõi sống “ ( Ga 11, 25; 3, 36; 5, 24).
Chính vì thế, người tín hữu luôn vững dạ an lòng, bởi vì họ được hiệp thông trong Hội Thánh, cùng liên kết với Chúa Kitô trong phép rửa. Như thế, người đã chết luôn nhận được nhiều lời cầu nguyện, các việc lành phúc đức và các thánh lễ do những người còn sống dành cho họ, miễn họ không phải lìa xa Chúa muôn đời.
SỰ SỐNG THAY ĐỔI CHỨ KHÔNG MẤT ĐI:
Mọi Kitô hữu đều sống liên kết với nhau trong Hội Thành bởi vì qua bí tích rửa tội, họ được làm con Chúa và con của Hội Thánh. Nên, họ luôn sống kết hiệp với nhau trong tình yêu thương của Thiên Chúa và sống hiệp thông trong thân thể của Chúa Kitô. Kitô hữu xác tín mạnh mẽ: ” Sự sống thay đổi chứ không mất đi “. Vâng, trong cùng một Giáo Hội “ có những kẻ còn tiếp tục cuộc hành trình nơi trần thế, có những kẻ đã hoàn tất cuộc sống này, và đang được tinh luyện, và có những kẻ được hiển vinh, đang chiêm ngưỡng rõ ràng chính Thiên Chúa duy nhất trong Ba Ngôi như Ngài hằng có “ ( GH 49 ).Quả vậy, mọi Kitô hữu đều xác tín cách mạnh mẽ lời Chúa phán: ” Ta là sự sống lại và là sự sống.Ai tin Ta, sẽ được sống đời đời, và không bị xét xử, nhưng sẽ được từ cõi chết mà qua cõi sống “( Ga 11, 25; 3, 36; 5, 21 ). Hoặc như Sách Khải Huyền viết: ” Thiên Chúa sẽ lau khô mọi giọt lệ nơi mắt họ, sự chết chóc sẽ không còn nữa, cũng không còn than khóc, không còn kêu la và không còn đau khổ nữa, vì các việc cũ đã qua đi “ ( Kh 21, 4 ). Người tín hữu yên tâm bởi vì cuộc sống trần gian chỉ là tạm bợ và đời sống mai sau mới vĩnh cửu trường tồn. Chúa Kitô qua sự chết đã đánh bại tử thần, người tín hữu là con Chúa, họ cũng đánh bại sự chết vì sự sống của họ sẽ thay đổi và nhận lấy cuộc sống mới của Chúa trao ban.
CẦU NGUYỆN CHO NHỮNG NGƯỜI ĐÃ CHẾT LÀ VIỆC LÀM LÀNH THÁNH. ĐÂY LÀ MẦU NHIỆM HIỆP THÔNG CỦA CÁC THÁNH:
Ngưòi tín hữu hướng tâm hồn lên Chúa Giêsu Kitô, lên Đức Mẹ và các Thánh để “ ngắm nhìn đời sống những người đã trung thành bước theo Chúa Kitô và khám phá ra một lý do mới thúc đẩy ta tìm thành Thánh tương lai “( GH 50 ). Đồng thời để xin các Thánh cầu thay nguyện giúp vì: ” Các Thánh không ngừng cầu bàu cho ta bên Chúa Cha…Các Ngài đã phục vụ Chúa trong mọi sự và hoàn tất trong thân xác mình những gì còn thiếu sót trong cuộc khổ nạn của Chúa Kitô, hầu mưu ích cho Thân thể Ngài là Hội Thánh ( Cl 1, 24 ). Do đó, với tình huynh đệ các Ngài lo lắng giúp đỡ chúng ta rất nhiều vì chúng ta yếu hèn “ ( GH 49 ).
Tháng 11 hằng năm, Hội Thánh dành riêng cầu nguyện cho các linh hồn. Điều này, chứng tỏ lòng thương vô bờ của Hội Thánh đối với những người đã khuất, đồng thời Hội Thánh cũng thúc giục, cảnh tỉnh mỗi Kitô hữu hãy nhớ tới mình, bởi vì một ngày nào đó mình cũng sẽ qua đi như biết bao nhiêu người đã khuất bóng.
Lạy Chúa Giêsu, xin cho các linh hồn được an nghỉ muôn đời và cho ánh sáng ngàn thu chiếu soi trên các linh hồn ấy.
Lm. Giuse Nguyễn Hưng Lợi DCCT
SỐNG LỜI CHÚA - Yêu Là Lẽ Sống
Người
ta kể lại rằng có một bà góa nghèo khó than thở là không biết làm gì để kiếm ra
tiền nuôi sống con cái. Đang trong cảnh lầm than, may mắn thay có một người lạ
mặt tới và cho bà ta con ngỗng và nói: “Bà chịu khó chăm sóc cho con ngỗng. Nó
sẽ đền đáp gấp bội cho bà.” Bà góa mang con ngỗng vào nhà, làm cho nó một cái
chuồng xinh xắn và cho ngỗng ăn uống đầy đủ.
Sáng hôm sau, bà tới thăm con ngỗng. Nó cho bà một qủa trứng vàng. Bà góa nhặt lấy và đem đi bán. Liên tiếp như thế một tháng ngày nào bà cũng săn sóc nó và bà cũng nhặt được một quả trứng vàng. Sau một thời gian ngắn bà trở nên giàu có.
Khi đã giàu có bà không còn muốn săn sóc con ngỗng nữa, nhưng bà lại muốn có ngay tức khắc tất cả kho vàng chứa trong bụng con ngỗng. Nghĩ thế, bà mới giết con ngỗng, mổ bụng nó ra, nhưng hỡi ôi, con vật chết và không có một quả trứng vàng nào trong bụng.
Giữa lúc buồn sầu và tuyệt vọng, bà góa mới nhớ lời người khách lạ: “Bà chịu khó chăm sóc cho con ngỗng. Nó sẽ đền đáp gấp bội cho bà.”
Trong bài Tin Mừng hôm nay, Chúa Giêsu dạy chúng ta hai giới răn cơ bản, đó là: (1) yêu mến Chúa hết lòng, hết linh hồn, hết trí khôn; (2) yêu thương người khác như chính bản thân mình.
Sao ta lại phải yêu Chúa? Yêu Chúa trước hết và trên hết đó là sự biểu lộ tình liên đới của ta với Chúa. Người yêu thương ta, dựng nên ta và cứu chuộc ta. Chính tình yêu tuyệt vời cao cả này thôi thúc chúng ta đáp trả lại tình yêu của Người.
Sao Chúa mời gọi chúng ta thương yêu người khác và ai là người khác? Người khác là những người gần chúng ta, những người chúng ta quen biết hay những người xa lạ với chúng ta. (Lk 10:25-28).
Chúa là đấng thiêng liêng. Chúng ta không thấy Người. Chúa muốn chúng ta yêu mến Chúa qua ngươi khác vì mỗi chúng ta được dựng nên theo hình ảnh Người và tất cả chúng ta là anh em trong gia đình Chúa. Theo thánh Augustinô, ‘Vì chúng ta không nhìn thấy Chúa, nên Chúa đã muốn chúng ta thấy Chúa qua tha nhân, yêu Chúa qua người khác.’
Mến Chúa và yêu người có một mối liên hệ thật mật thiết với nhau. Lòng mến Chúa chân thật được diễn tả qua tình thương đối với người khác trong cuộc sống, và tình thương tha nhân được bền vững và có cơ sở vì nó bắt nguồn từ tình yêu mến Thiên Chúa. Khi một người yêu Chúa và sống trong tình yêu của Chúa, người đó mang Chúa đến cho người khác. Đức Giêsu nói: “Thầy ban cho anh em một gíớ răn mới là anh em hãy yêu thương … nhau như thầy đã yêu thương anh em” (Jn 13: 35).
Chúa sẽ dùng giới răn mến Chúa và yêu người trong ngày phán xét để hỏi mỗi người chúng ta về việc bác aí chúng ta đã làm hay không làm cho người khác. "Nào những kẻ Cha Ta chúc phúc, hãy đến thừa hưởng Vương Quốc dọn sẵn cho các ngươi ngay từ thuở tạo thiên lập địa. Vì xưa Ta đói, các ngươi đã cho ăn; Ta khát, các ngươi đã cho uống; Ta là khách lạ, các ngươi đã tiếp rước; Ta trần truồng, các ngươi đã cho mặc; Ta đau yếu, các ngươi đã thăm viếng; Ta ngồi tù, các ngươi đến hỏi han."…"Quân bị nguyền rủa kia, đi đi cho khuất mắt Ta mà vào lửa đời đời, nơi dành sẵn cho tên Ác Quỷ và các sứ thần của nó. Vì xưa Ta đói, các ngươi đã không cho ăn; Ta khát, các ngươi đã không cho uống; Ta là khách lạ, các ngươi đã không tiếp rước; Ta trần truồng, các ngươi đã không cho mặc; Ta đau yếu và ngồi tù, các ngươi đã chẳng thăm viếng." (Mt 25: 35-40).
Trở lại câu chuyện bà góa nghèo, con ngỗng chỉ đẻ trứng vàng nếu nó được và săn sóc xứng đáng. Trái lại nếu nó bi giết chết nó sẽ trả lại cho bà góa sự nghèo khổ, trống vắng và cô đơn. Nói cách khác, yêu thương, chăm sóc và giúp đỡ người khác sẽ mang lai cho chúng ta những quả trứng vàng trong ngày sau hết. Vậy nếu tình yêu chúng ta thấm đượm giá trị Tin Mừng thì chúng ta sẽ được sống và sống dồi dào (Jn 10:10).
Thầy Đặng Đình Nên
SỐNG LỜI CHÚA - Trả Lại Cho Người
Nếu
phải trung thành với Thiên Chúa hoặc với người đời, bạn sẽ chọn ai? Có thể
bạn sẽ phân vân ngần ngại? Có thể bạn đã run rẫy dè chừng?
Nhưng với Thomas Moore, sự phân vân ngần ngại run rẫy dè chừng kia đã không bao giờ có. Vì tuy “vua là một minh quân, nhưng Thiên Chúa phải trên hết các vua!” Và lời nói khẳng khái trên đã khiến ông phải chịu án tử hình.
Thomas Moore là một quan chức rất quyền thế duới triều vua Henry VIII. Nhà vua muốn Tòa Thánh hủy bỏ cuộc hôn nhân chính thức trước đó để tái hôn với Anna Bolen.
Henry vô cùng tức giận khi Toà Thánh đã từ chối lời yêu cầu bất chính kia và đơn phương ly khai khỏi Giáo Hội Công Giáo đồng thời thành lập giáo hội Anh giáo rồi tự ý hủy bỏ cuộc hôn nhân trước để tái kết hôn theo ý riêng mình.
Ngoài việc tự phong mình là giáo chủ Anh giáo, Henry còn cuỡng bách các quan chức đạo đời phải ký tên gia nhập vào giáo hội mới ly khai và công nhận quyền tái hôn của mình.
Nhiều người phản đối, nhưng sợ vạ vào thân, nên đành đặt bút ký. Nhưng chỉ trừ một người…
Là một quan chức cao cấp đầy quyền thế, Thomas Moore đã có thể ký tên vào văn kiện kia để tiếp tục hưởng sống bổng lộc sống một đời vinh hoa phú quý. Nhưng biết mình không thể làm tôi hai chủ; biết mình không thể trung thành với vị vua không trung thành với Vua của muôn vua, Thomas đã khẳng khái tuyên bố: “Thà là chết trong sự quan phòng của Thiên Chúa hơn là sống theo điều bất chính phản nghịch này.”
Thomas liền bị tống giam vào ngục tối. Và điều gì phải đến đã đến: ngày 06/07/1525, trước phút giây xử trảm, vị quan cương trực liêm chính kia đã cầu xin cho vị vua bất chính biết thống hối quay về.
Trận chiến giữa Thiên Chúa và Cêsarê, giữa thiện và ác, giữa nô lệ và tự do, giữa tốt và xấu, giữa ánh sáng và bóng tối đã, đang và sẽ không bao giờ chấm dứt cho đến ngày tận thế cáo chung. Còn sống là còn tranh đấu. Còn sống là còn tin. Vào Đấng là Đường. Là Sự Thật. Và Sự Sống. Và vào chính chúng ta. Marcel Proust đã viết rằng “cuộc lữ hành khám phá thật sự không phải là nhìn những cảnh tượng mới nhưng là nhìn bằng đôi mắt mới .” Đôi mắt mới để trả về cho Thiên Chúa nhũng gì thuộc về Nguời. Bây giờ và cho đến lúc muôn đời xuôi tay nhắm mắt…
Lm Nguyễn Khoa Toàn
TIỆC CƯỚI YÊU THƯƠNG
Mùa
xuân năm 1947, cả thế giới chú ý tới hàng tin lớn trên các báo chí loan tin:
Công chúa Êlisabeth của nước Anh sẽ đẹp duyên với hoàng tử Philip người Hy Lạp.
Cuộc tình duyên này quan trọng, bởi vì công chúa Êlisabeth sẽ lên ngôi kế vị vua
cha trị vì không những trên vương quốc Anh và bắc Ái Nhĩ Lan, mà còn đứng đầu
khối thịnh vượng Anh, gồm trên 50 quốc gia lớn nhỏ như Ấn Độ, Canađa, Úc, Tân
tây Lan… Ai cũng tò mò theo dõi lễ cưới lịch sử này. Lễ cưới được tổ chức ngày
20-11-1947 tại tu viện cổ kính Westminster, nơi chôn cất các bậc quân vương và
những nhân vật nổi tiếng nước Anh. Người ta không những theo dõi hai nhân vật
chính là cô dâu chú rể, mà còn chăm chú điểm danh từng nhân vật quan trọng trên
thế giới. Không ai được mời tới dự mà muốn vắng mặt, từ những vị nguyên thủ quốc
gia đến các vị thủ tướng và các nhà chính trị, từ những nhà quý tộc đến những
nhà tỷ phú. Nói tóm lại, tất cả những nhân vật quan trọng hàng đầu của nước Anh
và nhiều nước trên thế giới đều lấy làm vinh dự được mời và được tham dự
trong lễ cưới long trọng này.
Trong Bài đọc thứ nhất của Tiên Tri Isaia, Thiên Chúa các đạo binh cũng mở tiệc khoản đãi tất cả mọi người trên núi Thánh. Mọi người được mời gọi tham dự trong niềm hân hoan yêu thương.
Bài Tin Mừng Matthêu hôm nay Chúa Giêsu nói về bữa tiệc cưới yêu thương mà nhiền người được mời gọi. Có những người từ chối, và nhiều người khác được mời tham dự tiệc cưới yêu thương này, nhưng phải trang phục bằng áo cưới xứng đáng. Nếu bữa tiệc cưới được nhà vua thiết đãi tượng trưng cho Nước Trời, trang phục lễ cưới cũng tượng trưng cho một lối sống chuẩn mực, phù hợp với công dân của nước Thiên Chúa. Như thế, trang phục lễ cưới mà dụ ngôn muốn nhắm đến là gì? Được Thiên Chúa mời gọi vào bàn tiệc nước Thiên Chúa qua Bí Tích Rửa Tội là một hồng ân yêu thương. Trang phục mà chúng ta cần phải có chính là một đời sống phù hợp với những đòi hỏi mà Thiên Chúa muốn chúng ta thực hiện. Trang phục lễ cưới đó chính là đời sống của Đức Kitô như thánh Phaolô đã từng nhắc nhở các giáo đoàn của ngài. Qua Bí Tích Rửa Tội, mỗi người chúng ta trở nên con người mới, nghĩa là con người được tái tạo trong Đức Kitô qua cái chết và phục sinh của Người. Chính vì thế, thánh Phaolô khuyên chúng ta khi đã trở nên con người mới, chúng ta cần phải mặc lấy Đức Kitô, phải được biến đổi theo hình ảnh của Người. Như thế, chiếc áo cưới chúng ta mặc cần phải được biểu lộ không chỉ nơi đời sống cá nhân của mỗi người, mà còn phải tỏ hiện trước mặt cộng đồng nữa. Mặc lấy Đức Kitô chính là mặc lấy sự công chính và mặc lấy sự thánh thiện.
Chúng ta cùng tạ ơn Chúa, qua Bí Tích Rửa Tội, chúng ta được Thiên Chúa mời gọi tham dự tiệc cưới Nước Trời yêu thương. Do đó, cuộc sống nơi dương thế là thời gian để chúng ta dệt thành trang phục áo cưới của con người mới: Đó là trang phục mang nhãn hiệu Đức Kitô, được dệt bằng công chính và thánh thiện. Nhờ đó, ngày vào bàn tiệc thiên quốc sẽ là ngày chúng ta hân hoan tiến bước, đồng bàn với Đức Vua là Thiên Chúa yêu thương, với Hoàng Tử Giêsu, và tránh đi thái độ không mang trang phục áo cưới để bị kết án và luận phạt.
Lạy Chúa, xin cho con chuẩn bị trang phục áo cưới mang nhãn hiệu Đức Kitô trong suốt hành trình đời con, để con xứng đáng được tham dự Tiệc Cưới Nước Trời Yêu Thương. Amen.
Linh Mục Paul Văn Chi.
THÁNH LỄ CẦU NGUYỆN CHO HÒA BÌNH và CÔNG LÝ tại CABRAMATTA
Trùng
hợp làm sao, ngày mai đây, toàn Giáo Hội Công Giáo sẽ mừng kính Lễ Thánh
Phanxicô Thành Assissi, hay thường được thân yêu kính trọng gọi là Thánh
Phanxicô khó khăn, tác giả của Kinh Hòa Bình, mà chúng ta cùng vừa cất cao giọng
hát.
“Để con đem yêu thương vào nơi oán thù, đem thứ tha vào nơi lăng nhục, đem an hoà vào nơi tranh chấp, đem chân lý vào chốn lỗi lầm.”
Và đó là lý do mà chúng ta tụ họp nhau đây, phi biên giới, phi tôn giáo, phi chính kiến để hợp lòng nguyện xin Trời mau đổ mưa Hòa Bình Công Lý và Đất sớm nở mầm Dân Chủ Tự Do xuống đến đồng bào chúng ta đang bị lăng nhục bởi một chủ nghĩa xây dựng trên oán thù. Bởi một tập đoàn lãnh đạo đã quá rất lỗi lầm: Phố Nhà Chung thành Xóm Nhà Riêng.
Và chẳng những đưa chân lý đến những người đã bị mê hoặc bởi chủ nghĩa cộng sản đại đồng, chúng ta tụ họp nhau đây tay nắm tay, bởi vì như lời thánh Phanxicô khó khăn, muốn đem tin kính vào nơi nghi nan, muốn chiếu trông cậy vào nơi thất vọng.
Ai đang thất vọng? Ai đang nghi nan? Đồng bào ta đang thất vọng. Giáo dân chúng ta đang nghi nan. Thất vọng và nghi nan vào một chế độ phi dân tộc và phi nhân bản. Nhưng đầy niềm tin và cũng đầy hy vọng vào Đấng đã tạo dựng và cai quản đất trời.
Và chúng ta không thể làm khác. Đúng hơn, chúng ta không đuợc phép đuợc quyền làm khác vì chúng ta không thể dững dưng, thờ ơ, lạnh lùng, ngoại cuộc truớc những bất hạnh của quê hương. Cố đại văn hào Alexander Solzhenitsyn đã nói rằng chủ nghĩa cộng sản lớn mạnh bởi vì một vài người chúng ta đã quá nhút nhát lạnh câm; thậm chí, một vài người chúng ta đã run chân qùy gối.
Nhưng chúng ta tụ họp nhau đây không dùng bạo lực và cũng không nhân danh bạo lực. Như Hội Đồng Giám Mục Việt Nam đã khuyến cáo đừng dùng những hình thức bạo lực trong hành động cũng như trong ngôn từ: “…Cần tập trung nặng lực viết những bài có sức đào tạo và hướng dẫn con người bước đi trong bình an và dũng cảm. Tránh rơi vào cách viết đối phó theo cảm tính nhưng cần tập trung đóng góp những gì đem lại ánh sáng và hướng dẫn lối đi.”
Hội Đồng Giám Mục Việt Nam cũng tái xác nhận là “Giáo hội không có chức năng làm chính trị, nhưng cũng không đứng bên lề xã hội." Mục tiêu chính yếu lâu dài không phải chỉ nhắm đòi lại đất đai của Giáo Hội đã bị bạo quyền cưỡng chiếm nhưng quan trọng và đòi buộc hơn là phổ biến Sự Thật và thực thi Công Lý cho mọi người dân của cả ba miền. Của mọi tôn giáo. Của tất cả đồng bào…
Vũ khí của chúng ta là Thánh Giá. Tuyên ngôn chúng ta là tràng chuỗi Mân Côi. Sao lại Thánh giá? Vì Thánh giá muôn đời là biểu tượng của hy vọng. Ứng cử viên Tổng Thống Hoa Kỳ của Đảng Cộng Hòa John McCain đã kể lại những ngày sống như mất niềm tin trong căn ngục tối tại nhà tù Hỏa Lò đuợc hóm hỉnh gọi là Hilton, Hà nội. Một ngày nọ, khi sức đã cùng và lực đã cạn, một người lính canh đến và lặng lẻ vẽ một thánh giá trên bức tường đầy bụi bặm. Rồi ông ta vội vã xóa và quay bước đi. Nhưng John McCain đã hiểu. Vẫn có những người can đảm sống đức tin trong chủ nghĩa đại đồng.
Và sao lại chuỗi Mân Côi? Vì toàn thế giới sẽ biến đổi nếu chúng ta nghiêm chỉnh thi hành mệnh lệnh của Đức Mẹ tại Fatima.
Không dùng bạo lực và không có tuyên ngôn nhưng chúng ta phải can đảm và mạnh mẽ khẳng định rằng sẽ không có Công Lý đích thực khi nhân quyền bị thô bạo chà đạp nhất là quyền tự do tín ngưỡng bị tước đoạt khống chế.
Chúng ta tụ họp nhau đây để công khai nói lên công lý là điều khác biệt duy nhất giữa hai thể chế đa đảng dân chủ tự do và độc đảng độc tài chuyên chế.
Tại những quốc gia khi nhân quyền đuợc Hiến Pháp trang trọng công nhận và việc thượng tôn luật pháp là nền tảng cho toàn bộ mọi sinh hoạt chính trị, tôn giáo, thương mại v.v…, một người dân -dẫu cho nắm giữ bất cứ điạ vị gì trong xã hội- khi cố tình vi phạm luât pháp và khi có đầy đủ bằng cớ chính đáng, –sẽ bị nghiêm trị thẳng thắn và công minh. Và đó là công lý phục hồi (restorative justice).
Nhưng tại các những quốc gia khi người dân không còn tiếng nói, khi nhân quyền bị thô bạo chà đạp và khi những quyền tự do căn bản nhất của con người không đuơc tôn trọng, công lý chỉ là bánh vẽ bề ngoài! Trại cải tạo hay trại phục hồi nhân phẩm cũng chỉ là những mỹ từ tô sơn phết bóng. Đó lả công lý trừng phạt (punitive justice).
Và đại đa số đồng bào chúng ta đang bị xiềng xích cùm gông của một chế độ hoàn toàn dựa trên công lý trừng phạt. Và chúng ta phải là tiếng nói cho những người dân nghèo khốn không còn tiếng nói. Không thể giản đơn “Hát Cho Người Nghèo” khi khao khát duy nhất của người nghèo không hẳn chỉ là cơm áo mà là đuợc sống và bảo vệ bởi Công Lý và Sự Thật, được sống đời sống thực sự con người trên chính mồ hôi và nước mắt đời mình.
Hội Đồng Giám Mục Việt Nam đã gắng thực hiện theo đúng lời nhắn gửi của Đức Cố Giáo Hoàng Gioan Phaolô II: "Đừng sợ, hãy hiệp nhất với nhau và hãy nói Sự Thật". Hãy tôn trọng Sự Thật vì chỉ có “Sự Thật giải phóng chúng ta.” Từ Thái Hà và Tòa Khâm Sứ, Thánh Thần Chúa đã tác động thổi bùng lên khí thế đấu tranh cho và vì Sự Thật.
Đây là thử thách Thiên Chúa trao ban và đây cũng chính là cơ hội cho mỗi người chúng ta cần lắng nghe tiếng Chúa để cải hóa chính con người mình. Và đồng hành cùng toàn Dân Tộc.
Và nếu tin rằng mọi công việc đều có dấu ấn Thánh Giá của Thiên Chúa, Người đang mời gọi mỗi người chúng ta tự vác thánh giá mình cộng tác vào chương trình cứu chuộc của Người.
Chúa đã sống đời sống Người cho ta và đã hiến dâng mạng sống Người vì ta. Và giờ đây trên thập giá cao kia, Người đang nhìn xuống và ước mong sống đời sống Người qua ta. Qua chính mỗi một người chúng ta.
Và cũng trùng hợp làm sao, năm nay Giáo Hội Công Giáo kỷ niệm 20 năm ngày tôn phong các hiển thánh Tử Đạo Việt Nam. Chúng ta đang được mời gọi Sống Tử Đạo ngay trên phất đất hòa bình, tự do, công lý này. Không thể đòi buộc công lý tại quê nhà khi chúng ta xem thường công lý nơi đây. Không thể tranh đấu cho Sự Thật khi Sự Thật ở đây chỉ là môi miệng trang sức giả hiệu bề ngoài.
Như hạt mầm sẽ phải chết đi trước khi nở hoa sanh trái, công cuộc trường kỳ tranh đấu cho Công Lý và Sự Thật đòi buộc nhiều ít hy sinh từ chính mỗi một chúng ta – những hậu duệ của của Nguyễn, Trần, Lê, Lý; những con cháu của Bà Trưng, Bà Triệu, Lê Lợi, Lê Lai…
Xin Tình Yêu của Đấng đã chịu chết cho chúng ta được sống và sống sung mãn mãi mãi là kim chỉ nam cho đời sống chúng ta bây giờ và muôn đời muôn kiếp. Amen.
Lm. Nguyễn Khoa Toàn.
Tại Sao Lại Phải Lo Lắng Trong Khi Chúng Ta Có Thể Cầu Nguyện!
Một
câu chuyện kể rằng: tướng Massena, một trong những vị tướng của vua Napoleon,
cầm đầu một đội quân gồm 18,000 người bao vây một thành phố của nước Áo. Trong
lúc bị bao vây thì hội đồng thành phố họp lại để bàn tính kế hoạch đầu hàng. Lúc
đó một vị bô lão đứng lên nhắc rằng hôm đó là ngày Lễ phục sinh và đề nghị tất
cả hãy tham dự các nghi thức Phục sinh trước và dâng những khó khăn đó vào bàn
tay quan phòng của Thiên Chúa.
Hội đồng chấp nhận cùng nhau đến nhà thờ và rung chuông để tụ họp mọi người tham dự nghi thức phục sinh. Khi quân đội của Napoleon nghe những hồi chuông reo vang thì họ cho rằng đội quân tiếp viện của Áo đã đến cho nên ngay lập tức đã rút lui, và thành phố nhờ thế đã được cứu thoát.
Câu chuyện này minh họa điều mà Thánh Phaolô nói trong bài đọc hai hôm nay. Tin vào Chúa ảnh hưởng vào cách thức khi chúng ta đối diện với những khó khăn trong cuộc sống. Trong khi những người không có đức tin thường đáp trả những khó khăn bằng một tâm hồn lo lắng, thì con người của đức tin lại đáp trả những khó khăn này bằng cầu nguyện. Qua câu chuyện trên chúng ta thấy: lo lắng chỉ khiến chúng ta đầu hàng trong yếu đuối truớc những thách đố mà chúng ta đang đối diện. Trái lại, trong cầu nguyện, chúng ta giang hai tay đến với vị cha yêu thương và đầy quyền năng của mình, Đấng có thể đưa chúng ta ra khỏi những khó khăn bằng những phương thế mà chúng ta không ngờ.
Thánh Phaolô nhắc chúng ta rằng cầu nguyện không phải là chỉ đọc lên một danh sách gồm những nhu cầu của mình lên Chúa, nhưng còn bao gồm việc cảm tạ hồng ân của sự sống và đức tin mà chúng ta đang có - “Anh em thân mến, anh em đừng lo lắng gì hết, nhưng trong khi cầu nguyện, anh em hãy trình bày những ước vọng lên cùng Chúa, bằng kinh nguyện và lời cầu xin đi đôi với lời cảm tạ” (Phil. 4:6). Thông thuờng khi cầu nguyện, chúng ta thường tập trung vào chính mình, mà quên rằng lời cầu nguyện của một Kitô hữu còn phải tập trung vào Chúa. Trong cầu nguyện chúng ta trao đổi với Chúa những căng thẳng và lo âu của mình để nhận lấy sự bình an của Người, bởi vì chỉ có như thế thì “bình an của Chúa, sẽ giữ gìn lòng trí anh em trong Chúa Giêsu Kitô” (Phil. 4:7).
Điều thứ hai thánh Phaolô dạy chúng ta là cầu nguyện không chỉ là việc quỳ gối để cầu nguyện, nhưng còn bao gồm những gì mà ngày hôm đó chúng ta suy tưởng. Một lối suy tưởng tích cực. Thánh Phao lô không đòi hỏi chúng ta suốt ngày chỉ suy nghĩ về những lỗi lầm của mình hoặc của thế giới, nhưng theo ngài, con người của cầu nguyện là người luôn suy tưởng về những điều chân thật, trong sạch, công chính, thánh thiện, đáng yêu chuộng, danh thơm tiếng tốt (Phil. 4: 8).
Cuối cùng cầu nguyện phải được biểu lộ bằng hành động. Chìa khoá để tìm kiếm sự bình an trong thế giới của căng thẳng là đừng lo lắng nhưng hãy cầu nguyện và làm những việc cần phải làm. Chúng ta khởi đầu viiệc cầu nguyện trong thánh đường, tiếp tục với những suy tưởng tích cực khi ra khỏi nhà thờ, và phải được thể hiện bằng hành động cụ thể, như thánh Phaolô viết “điều anh em đã học biết, đã lãnh nhận, đã nghe và đã thấy nơi tôi, anh em hãy đem những điều đó ra thực hành. Thì thiên Chúa bình an sẽ ở cùng anh em.” (Phil 4: 9). Đây là cách mà bình an của Chúa sẽ ở với mỗi người chúng ta.
LM Nguyễn Văn Tuyết.
Chúa mời gọi bạn đối xử với người khác như Chúa đối xử với bạn.
Tin
Mừng Chúa Nhật tuần này cho chúng ta biết rằng chúng ta thường nghĩ tới bản than
mình và ganh tị với người khác, đặc biệt khi ngưới khác xem ra thua kém mình
nhưng lại gặp điều tốt.
Đây là thái độ của người làm công được ông chủ thuê từ sáng sớm. Ông ta đã không nhận ra tình yêu và lòng quảng đại của ông chủ. Ông ta tỏ thái độ bực tức với những người đến làm trễ: "Mấy người sau chót này chỉ làm có một giờ, thế mà ông lại coi họ ngang hàng với chúng tôi là những người đã phải làm việc nặng nhọc cả ngày, lại còn bị nắng nôi thiêu đốt" (Mt 20:12).
Trong cuộc sống hằng ngày, chúng ta cảm thấy cách cư xứ của mình tương tự như người làm công từ hồi sang sớm. Nhiều khi chúng ta có cái nhìn thiếu sót, hạn hẹp, thành kiến với người khác. Chúng ta đau khổ trước sự thành đạt của người khác. Chúng ta ghen tức với những người ‘đến sau’, những người ‘kém may mắn’, ‘kém khả năng’ hơn chúng ta trong vườn nho của Giáo Hội. Tư tưởng của chúng ta thật xa vời so với tư tưởng của Chúa. Chúa phán rằng “Trời cao hơn đất chừng nào thì đường lối của Ta cũng cao hơn đường lối các ngươi, và tư tưởng của Ta cũng cao hơn tư tưởng các ngươi chừng ấy” (Is 55: 9). Đường lối của Chúa của Chúa thật diệu huyền. Ta có thể lấy một thí dụ: Khi Sarah, vợ của Abraham, nghe lóm Chúa nói với Abraham là năm tới Sarah sẽ sinh cho ông một con trai. Sarah cười. Bà cười cho chính thân phận bà. Sinh con là điều không thể trong tuổi già của bà.
Đường lối của Chúa không phải là đường lối của Sarah. Chúa đã cho Sarah đã sinh con.
Về mặt thực hành, bài Tin Mừng hôm nay cho chúng ta hai điểm chính để chúng ta suy nghĩ và áp dụng.
Điểm thứ nhất, qua hình ảnh ông chủ, Chúa cho chúng ta biết rằng Người công bằng vô cùng: "Này bạn, tôi đâu có xử bất công với bạn. Bạn đã chẳng thoả thuận với tôi là một quan tiền sao?” Chúa trả cho chúng ta xứng với những gì chúng ta đã làm cho Chúa và cho tha nhân.
Điểm thứ hai, qua hình ảnh ông chủ, Chúa cho chúng ta biết rằng người yêu thương vô cùng: “Chẳng lẽ tôi lại không có quyền tuỳ ý định đoạt về những gì là của tôi sao?” Chúa trả cho chúng ta nhiều hơn chúng ta có thể tưởng tượng. Công lao của chúng ta không thể nào sánh với phần thưởng đời đời mà Chúa ban cho chúng ta. Đây chính là sứ điệp chính của Tin Mừng.
Chúng ta cần áp dụng hai điểm này trong đời sống hằng ngày. Trong khi chúng ta chưa có thể áp dụng được điểm thứ hai (tình yêu) trong cách cư xử của chúng ta với người khác thì chúng ta cố gắng áp dụng điểm thứ nhất (công bằng). Ngôn ngữ tình yêu đặt nền tảng trên ngôn ngữ công bằng, đồng thời, ngôn ngữ tình yêu vượt xa ngôn ngữ công bằng.
Như vậy, yêu người như yêu mình thì đúng nhưng chưa đủ. Yêu người như Chúa yêu mình. Đó mới là điểm mà chúng ta cần cố gắng thực hiện.
Xin Thánh Thần Chúa luôn hướng dẫn tất cả chúng ta.
Đặng Đình Nên.
SUY TÔN THÁNH GIÁ
Có
thể nói không ngoa là sau Đức Mẹ, thánh giá là đề tài được nhiều nhạc sĩ chú tâm
nhất. Nội chỉ tựa đề những bài hát đạo đời mang hai chữ ‘thập tự’ đã nhiều
không kể xiết…
Chẳng những thế, thánh giá được phổ biến, hoặc dùng những lời của một nhà phê bình văn học nghệ thuật, “đuợc tận tình khai thác”, qua mọi lãnh vực nhất là thương mại. Nhìn thánh giá với muôn hình muôn vẽ nhan nhãn khắp nơi đã khiến Vance Havner chua chát nhận xét: “Than ôi! Nhiều tín hữu đeo Thánh giá như món đồ trang sức và trên thân xác họ tuyệt nhiên không mang một vết thương nào!!!”
Nhưng dẫu sao đi nữa, thập giá muôn đời là biểu tượng của niềm tin vào một nguồn hy vọng tuyệt đối. Ứng cử viên Cộng Hòa John McCain đã kể là ngày nọ một người lính canh đến và lặng lẻ vẽ một thánh giá trên bức tường đầy bụi bặm trong căn ngục tối tại nhà tù Hỏa Lò, Hà nội. Rồi ông ta vội vã xóa và quay bước đi. Nhưng John McCain đã hiểu. Vẫn có những người can đảm sống đức tin trong chủ nghĩa đại đồng. Thánh giá đuợc lưu tâm vì đó là tâm điểm của Tin Mừng và đuợc nhắc trực tiếp 175 lần trong Tân Ước và nhiều lần gián tiếp khác. Thực thế, như thánh Rosa thành Lima đã hóm hỉnh xác tín là “ngoài thánh giá, chẳng còn cái thang nào khác để có thể leo đến thiên đàng!!!”
E. M Bounds đã viết rằng “tất cả mọi sáng tạo của Thiên Chúa đều có dấu ấn Thánh Giá của Người.” Như hạt mầm sẽ phải chết đi trước khi nở hoa sanh trái, mỗi một công việc làm đều phải nhuốm nhiều ít hy sinh. Chúa đã sống đời sống Người cho ta và đã hiến dâng mạng sống Người vì ta. Và giờ đây trên thập giá cao kia, Người đang nhìn xuống và uớc mong sống đời sống Người qua ta. Qua chính mỗi một người chúng ta.
Đời bạn đã in dấu ấn thánh giá Chúa chưa? Đây là câu hỏi xoáy vào mầu nhiệm kỳ bí: Thiên Chúa quyền năng đến vô cùng nhưng lại không bao giờ bó buộc những thụ tạo của Người. Trái lại, Người mời gọi mỗi người chúng ta tự vác thánh giá mình cộng tác vào chuơng trình cứu chuộc của Người. Còn nhớ không những lần Người mời gọi mỗi khi làm phép lạ: “…đổ đầy nước; … chia bánh, cá v.v…?
Hay nói như Watchman Nee: “Máu Chúa đã đổ ra vì tội chúng ta nhưng thập tự Chúa cảnh giác mỗi hành vi từng người. Máu Chúa xóa sạch tội nhân loại nhưng thập giá Người phá đổ khả năng phạm tội của mỗi một chúng ta.”
Vì thế, hãy muôn đời suy tôn thánh giá Chúa…
Lm Nguyễn Khoa Toàn.
TRỪNG PHẠT HAY PHỤC HỒI?
Nếu
cần tìm một điều khác biệt duy nhất giữa hai thể chế đa đảng dân chủ tự do và
độc đảng độc tài chuyên chế thì điều khác biệt kia nằm ngọn trong hai chữ công
lý.
Tại những quốc gia khi nhân quyền đuợc Hiến Pháp trang trọng công nhận và việc thượng tôn luật pháp là nền tảng cho toàn bộ mọi sinh hoạt chính trị, tôn giáo, thương mại v.v…, một người dân -dẫu cho nắm giữ bất cứ điạ vị gì trong xã hội- khi cố tình vi phạm luât pháp và khi có đầy đủ bằng cớ chính đáng, –sẽ bị nghiêm trị thẳng thắn và công minh. Và đó là công lý phục hồi (restorative justice).
Nhưng tại các những quốc gia khi người dân không còn tiếng nói, khi nhân quyền bị thô bạo chà đạp và khi những quyền tự do căn bản nhất của con người không đuơc tôn trọng, công lý chỉ là bánh vẽ bề ngoài! Trại cải tạo hay trại phục hồi nhân phẩm cũng chỉ là những mỹ từ tô sơn phết bóng. Cố đại văn hào Alexander Solzhenitsyn trong tác phẩm để đời “The Gulag Archipelago” đã làm lung ray tận cùng gốc rễ chế độ cộng sản Xô Viết khi ông ta đã mô tả sự thật kinh khiếp phũ phàng trong những trại tập trung nơi công lý trừng phạt (punitive justice) là kim chỉ nam cho những cái gọi là ‘tòa án nhân dân’!!!
Công lý phục hồi nhắm đến một sự cân bằng giữa người gây ra sự việc, nạn nhân và gia đình cùng xã hội chung quanh. Vì thế, mục đích tối hậu của công lý phục hồi không phải là trừng phạt những là hoán cải người gây ra lầm lỗi. Hoán cải không phải là bưng bít che đậy mà là khôn khéo nhẹ nhàng tế nhị nhưng dứt khoát cứng rắn giúp cho kẻ lỡ bước sa chân kia thấy sự việc sai trái của mình đồng thời tạo mọi điều kiện để người ấy có cơ hội trở về đuờng ngay nẻo chánh.
Bài Phúc Âm hôm nay là một biểu chứng hùng hồn là nền công lý phục hồi cần đuợc khai triển trong mọi khía cạnh của đời sống của từng cá nhân, gia đình, cộng đoàn và xã hội. Bước đầu tiên là phục hồi danh dự và nhân phẩm của nạn nhân và của cả người gây ra tội phạm. “Nếu anh chị em ngươi lỗi phạm, hãy đi dạy sửa người ấy, riêng ngươi và người ấy thôi.” Chỉ riêng ngươi và nó thôi vì tiến trình hoán cải con nguời đòi buộc khá nhiều nhạy bén tế nhị và rất nhiều tha thứ cảm thông. Càng thiếu tế nhị cảm thông tha thứ bao nhiêu thì càng dẫn đưa người lầm lỗi vào ngõ cùng hụt hẫng. Họ mất niềm tin. Và chẳng còn hy vọng. Và khi không còn ai để cấy niềm tin và khi không còn nơi nào để bám hy vọng vào, cái chết là một kết luận đã rồi!
Lm Nguyễn Khoa Toàn.